This is default featured post 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured post 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured post 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured post 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured post 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

Feb 16, 2011

babyface - the loneliness

Apr 15, 2010

Lãi suất cho vay liệu có thực sự giảm?


Lãi suất cho vay liệu có thực sự giảm?



www.SAGA.vn - Trong thời gian gần đây có nhiều thông tin về việc các ngân hàng sẽ giảm lãi suất cho vay. Lãi suất cho vay giảm là điều mà người đi vay nào cũng mong muốn, nhất là đối với các doanh nghiệp đang trong giai đoạn kinh doanh khó khăn hiện nay.

Thế nhưng vấn đề đặt ra là liệu lãi suất cho vay có thực sự giảm như kỳ vọng? Các ngân hàng có thực giảm lãi cho vay cho các khách hàng của mình như đã công bố ra bên ngoài? Hay đó chỉ là bề nổi, còn bên trong thì… Chỉ có người đi vay và người cho vay mới biết. Giảm lãi cho vay nhưng lại phát sinh đủ các loại phí mà trước đây chưa từng nghe thấy bao giờ. Các khách hàng vì muốn được vay thôi thì cũng tạm mà chấp nhận cho qua giai đoạn trước mắt để duy trì đồng vốn kinh doanh. Nhưng nói gì thì nói các ngân hàng cũng có cái khó của họ. Họ cũng là một doanh nghiệp kinh doanh như hàng ngàn doanh nghiệp khác trên thị trường. Do phải trả một giá vốn quá đắt nên giá bán ra phải tăng cao.

Vậy vấn đề đặt ra chính là do xuất phát từ nguồn vốn đầu vào của các ngân hàng. Tiền trong dân đã đi đâu? Đã đầu tư vào đâu? Làm thế nào để huy động được dòng tiền trong dân quay lại với ngân hàng? Đó là một bài toán khó và nan giải mà không thể giải quyết được nhanh chóng trong ngày một ngày hai được.
www.SAGA.vn - meoudangyeu

Nov 14, 2009

Đòn bẩy vốn: Trung gian Tài chính

Đòn bẩy vốn: Trung gian Tài chính


Trung gian tài chính, tức là quá trình một tổ chức thường là một tổ chức tương đối lớn và ổn định, đứng ra vay vốn rồi cho các tổ chức nhỏ hơn, có độ an toàn ít hơn vay lại. Những tổ chức nhỏ khi đi vay tiền sẽ phải trả lãi suất cao hơn lãi suất mà tổ chức lớn phải trả khi đi vay tiền. Quá trình này có vẻ như là một quá trình tự sinh lời song vấn đề là ở chỗ liệu các tổ chức vay lại có trả được lãi suất đủ cao để bù đắp lại tính rủi ro cao hơn mà tổ chức vay lần 1 phải chịu cũng như chi phí trả nợ hay không.

Việc sử dụng cả vốn đi vay và vốn tự có để đầu tư được gọi là sử dụng đòn bẩy tài chính. Tỷ lệ của các quỹ đi vay trên quỹ hiện có (hay tỷ lệ nợ/tài sản) được gọi là tỷ số vay nợ. Các tổ chức doanh nghiệp hoạt động trong mọi lĩnh vực đều sử dụng đòn bẩy tài chính.

Các tập đoàn Mỹ trước đây nhìn chung có tỷ số vay nợ vào khoảng 1.0; tức là 1 đồng vốn vay trên 1 đồng vốn tự có. Điều này có nghĩa là nhìn chung khoản cổ phần đóng góp của các cổ đông ngang bằng với khoản vốn đi vay thông qua hình thức phát hành trái phiếu công ty. Trong những thập kỷ gần đây, tỷ số vay nợ của các tập đoàn Mỹ đã và đang có xu hướng vượt qua mức 1.0. Các tập đoàn nằm ngoài nước Mỹ như Nhật Bản có tỷ số vay nợ cao hơn những tập đoàn khác ở Mỹ. Các tập đoàn trong những ngành công nghiệp khác ở Mỹ có thể có các tỷ số vay nợ tương đối khác biệt so với tỷ lệ trung bình ở Mỹ.

Các ngân hàng thương mại có tỷ số vay nợ cao hơn tỷ lệ bình quân của các tập đoàn khác nhiều lần bởi nó chính là tỷ lệ giữa nợ có hạn và giá trị ròng của ngân hàng đó. Các ngân hàng thương mại bảo hiểm của những năm 1980's có tỷ số vay nợ bình quân cao hơn mức 15/1 một chút. Các liên đoàn tín dụng thường có tỷ số vay nợ bằng không. Các tổ chức doanh nghiệp cho vay lại khoản vốn mà họ có. Bằng cách đó họ có thể thu được tỷ lệ lợi nhuận cao hơn từ các quỹ cổ phần của mình. Tái cho vay có thể đem lại lợi nhuận cao hơn từ các quỹ đầu tư nếu tỷ lệ lợi nhuận thu được từ các quỹ cho vay cao hơn tỷ lệ lãi suất đi vay.

Trong trường hợp này lợi nhuận thu được từ chênh lệch lãi suất sẽ tích tụ dần thành vốn cổ phần và có thể đem lại một tỷ lệ lợi nhuận cao cho các quỹ cổ phần. Có một ví dụ mô tả sức mạnh của công cụ đòn bẩy tài chính.

Giả định một tổ chức có trong tay một triệu đô la Mỹ cổ phần và đi vay 4 triệu đô la Mỹ với lãi suất 8%. Tỷ số vay nợ L lúc đó sẽ là 4. Nếu đem toàn bộ 5 triệu đô la Mỹ đó tái cho vay hoặc đầu tư và tỷ lệ lợi nhuận thu được là 10% thì tổ chức đó đã kiếm được $500,000 trong khi chỉ phải trả tiền lãi là $320,000. Tổ chức này thu được lợi nhuận cổ phần là $180,000. Như vậy tổ chức này thu được tỷ suất lợi nhuận bổ sung là 18%, tức là $180,000 lợi nhuận thu được so với 1 triệu đô vốn gốc.

Đây là khía cạnh tích cực của việc sử dụng đòn bẩy tài chính. Tuy nhiên, nếu do những trường hợp không lường trước nào đó, tỷ suất lợi nhuận của quỹ vốn đầu tư giảm xuống chỉ còn 6% thì tổ chức đó chỉ thu được $300,000 trong khi phải thanh toán một khoản lãi là $320,000. Điều này có nghĩa là chủ vốn phải chịu một khoản lỗ là $20,000. Tỷ suất lợi nhuận lúc này là -2%. Bất kể một sự dao động nào trong tỷ suất lợi nhuận của quỹ đầu tư tương đương với lãi suất nợ có thể bị khuyếch đại bởi đòn bẩy tài chính.

Trong ví dụ này thì việc tỷ suất lợi nhuận dao động từ mức cao hơn lãi suất là 2% xuống mức thấp hơn lãi suất là 2% dẫn đến tỷ suất lợi nhuận dao động từ mức 18% (lên thiên đường) xuống mức chỉ còn -2% (xuống địa ngục). Chênh lệch 4% trong tỷ suất lợi nhuận của quỹ đầu tư đã tạo ra độ chênh lệch 20% trong tỷ suất cổ phần, tỷ lệ ở đây là 5/1 Bây giờ xét một trường hợp ít cực đoan hơn của việc sử dụng đòn bẩy tài chính. Giả định rằng tổ chức đó vay $500,000 để cùng đầu tư với $1 triệu vốn cổ phần. Tỷ số vay nợ lúc đó là 0.5. Nếu như tỷ lệ lãi suất nợ là 8% và tỷ suất lợi nhuận của tổng tài sản là 10% thì lúc đó tổ chức này đã thu được $150,000 trong khi phải thanh toán một khoản lãi là $40,000. Chủ cổ phần lúc này thu được một khoản lời là $110,000 để cộng thêm vào vốn cổ phần của mình. Với một khoản lời như vậy thì tỷ suât lợi nhuận thu được trên số vốn $1 triệu là 11%. Việc sử dụng đòn bẩy tài chính tăng tỷ suất lợi nhuận của vốn cổ phần từ 10% lên 11%. Một biến cố không thuận khiến cho tỷ suất lợi nhuận của tài sản giảm từ 10% xuống còn 6% sẽ làm giảm lợi nhuận thu được xuống còn $90,000. Sau khi trả $40,000 tiền lãi, khoản tiền còn lại của chủ cổ phần là $50,000. Tỷ suất lợi nhuận ở đây là 5%. Do đó, tỷ suất lợi nhuận đã giảm từ 11% xuống còn 5%. Tỷ suất lợi nhuận giảm xuống 6% do kết quả của việc tỷ suất lợi nhuận tài sản giảm 4%. Tỷ lệ giữa dao động của tỷ suất lợi nhuận cổ phần trên dao động của tỷ suất lợi nhuận tài sản là 1.5.

Công thức chung được áp dụng là:

Tỷ suất lợi nhuận Cổ phần = Tỷ suất lợi nhuận các Quỹ đầu tư + L(Tỷ suất lợi nhuận các Quỹ đầu tư - Tỷ lệ lãi suất các Quỹ đi vay) trong đó L một lần nữa lại đại diện cho tỷ số vay nợ.

Diễn đạt một cách cô đọng hơn, công thức trên có dạng sau: Rcổ phần = Rđầu tư + L(Rđầu tư - Rnợ)

(Lưu ý rằng công thức này không tính đến chi phí hành chính của một tổ chức tài chính cũng như chi phí cho việc trả nợ của các món vay cá nhân hay đầu tư cá nhân. Tất cả những nhân tố này đóng vai trò quan trọng đối với một tổ chức tài chính song chúng làm mờ đi vấn đề chung của đòn bẩy tài chính.)

Ví dụ nêu trên cũng như công thức tỷ suất lợi nhuận cổ phần mô tả tác động của việc sử dụng đòn bẩy tài chính. Với tỷ số vay nợ lớn hơn 1.0 việc sử dụng đòn bẩy tài chính khuyếch đại độ chênh lệch giữa tỷ suất lợi nhuận tài sản và tỷ lệ lãi suất nợ. Song mức chênh lệch này có thể có tác động tích cực, cũng có thể có tác động tiêu cực.

Biểu đồ dưới đây mô tả tác động của việc sử dụng đòn bẩy tài chính. Nó cho ta thấy những chu kỳ giả thuyết về tỷ suất lợi nhuận của tài sản đầu tư. Đôi khi tỷ suất lợi nhuận tài sản giảm xuống dưới mức lãi suất của các quỹ đi vay. Trong trường hợp minh hoạ trên biểu đồ này thì tỷ số vay nợ là 1.5. Tỷ suất lợi nhuận tài sản bình quân cao hơn lãi suất đi vay và tỷ suất lợi nhuận cổ phần cao hơn tỷ suất lợi nhuận tài sản bình quân. Việc sử dụng đòn bẩy tài chính đã đem lại điều này.

Trong trường hợp tỷ số vay nợ nhỏ hơn mức 0.5 rất nhiều thì những dao động trong tỷ suất lợi nhuận cổ phần sẽ ít hơn rất nhiều. Đối với cá ctỷ số vay nợ nhỏ hơn 1.0 thì tỷ suất lợi nhuận tài sản chỉ thay đổi chút ít. Tỷ suất lợi nhuận không nhất thiết lúc nào cũng phải giảm xuống mức thấp hơn lãi suất nợ. Dưới đây là một trường hợp như vậy: Khi thảo luận về bất kỳ chủ đề gì liên quan đến rủi ro thì chúng ta gặp phải một vấn đề là từ rủi ro có thể mang nhiều nghĩa khác nhau.

Trong kinh tế tài chính thì rủi ro thường có nghĩa là độ biến thiên của tỷ suất lợi nhuận. Còn trong thị trường chứng khoán và vốn vay khi lợi nhuận đã được xác định thì rủi ro là ngầm định. Rủi ro là một vấn đề đặc biệt quan trọng cho các tổ chức gắn kết các quỹ vốn tự có với các quỹ vốn đi vay. Tổ chức đó buộc phải trả tiền lãi cho khoản tiền đi vay theo hợp đồng vay vốn. Bởi thế, bất kỳ một thay đổi nào của tỷ suất lợi nhuận thu được từ khoản vốn đi vay đều có thể có tác động lớn đến tỷ suất lợi nhuận của nguồn vốn tự có của tổ chức đó.

Mối quan hệ chung tồn tại giữa rủi ro của vốn đi vay (vốn đầu tư) và rủi ro đối với người nắm cổ phần của tổ chức đó là:

Rủi ro Cổ phần = (L+1)x(Rủi ro vốn đầu tư) trong đó L là tỷ số vay nợ (Vốn vay/Vốn cổ phần).

Trong ví dụ đầu tiên ở trên thì một dao động trong tỷ suất lợi nhuận tài sản là 4% sẽ dẫn đến một dao động là 20% trong tỷ lệ lợi nhuận cổ phần.tỷ số vay nợ trong trường hợp này là 4. Độ dao động trong tỷ suất lợi nhuận cổ phần là (4+1)x4. Trong trường hợp thứ haitỷ số vay nợ là 0.5 và độ dao động trong tỷ suất lợi nhuận là 6% và độ dao động trong tỷ suất lợi nhuận tài sản là 4%. Con số 6% bằng (0.5 + 1)x4 là đồng nhất với công thức.

Mối quan hệ giữa tỷ suất lợi nhuận cổ phần và rủi ro trong trường hợp sử dụng đòn bẩy tài chính chỉ là một trường hợp đặc biệt của mối quan hệ hcung giữa rủi ro và lợi nhuận. Thị trường thiết lập một mối quan hệ giữa rủi ro của một hoạt động và tỷ suất lợi nhuận dự kiến của nó.

Doanh nghiệp có nhiều tiền mặt, tốt hay không?

Doanh nghiệp có nhiều tiền mặt, tốt hay không?

Dường như tiền mặt luôn là một cái gì đó mà ai cũng thích sở hữu, doanh nghiệp cũng vậy. Thế nhưng việc doanh nghiệp có quá nhiều tiền mặt liệu có phải là một điều tốt?

Chúng ta biết rằng hầu hết các doanh nghiệp vận hành đều chú ý sử dụng lợi ích từ việc vay nợ. Trong điều kiện hoạt động bình thường, tài trợ bằng nợ có thể giúp doanh nghiệp gia tăng khả năng sinh lợi, thế nhưng nhà đầu tư nào cũng biết đến mặt trái của nợ. Khi mọi thứ không diễn biến như các kế hoạch, thì nợ có thể khiến doanh nghiệp gặp vấn đề nghiêm trọng.

Thế còn vị thế tiền mặt của doanh nghiệp thì sao? Qúa nhiều nợ chắc chắn là một điều không tốt, liệu điều đó có đúng với tiền mặt?

Trước tiên, có vẻ như nhà đầu tư luôn tìm kiếm các doanh nghiệp có lượng tiền mặt dồi dào thể hiện trên bảng cân đối kế toán, bởi vì họ tin rằng nhiều tiền mặt sẽ giúp doanh nghiệp xử lý một cách dễ dàng nếu các kế hoạch kinh doanh đang xấu đi và nó cũng cho doanh nghiệp nhiều sự lựa chọn hơn trong việc tìm kiếm các cơ hội đầu tư trong tương lai.

Thật không may, chẳng có gì là đơn giản, tiền mặt cũng vậy. Lượng tiền mặt trên bảng cân đối kế toán của mỗi doanh nghiệp sẽ được nhà đầu tư hiểu với nhiều các tác động tín hiệu khác nhau: gồm cả tín hiệu tốt và tín hiệu xấu. Dĩ nhiên là nếu hiểu rõ được nguồn hình thành các khoản tiền mặt cho doanh nghiệp, loại hình doanh nghiệp và các kế hoạch mà các nhà quản trị đang dự định thực hiện sẽ giúp nhà đầu tư có cái nhìn chuẩn xác hơn.

Các lý thuyết tài chính doanh nghiệp nói rằng mỗi doanh nghiệp nên có một mức tiền mặt thích hợp cho doanh nghiệp mình, một lượng đủ để thanh toán lãi vay, các chi phí và chi tiêu vốn, ngoài ra còn phải dự trữ thêm một ít nữa để doanh nghiệp kịp xử lý trong những tình huống khẩn cấp. Nhà đầu tư có thể tính toán chỉ số thanh toán hiện hành và chỉ số thanh toán nhanh của doanh nghiệp để xác định khả năng doanh nghiệp có thể đáp ứng các nghĩa vụ tài chính đến hạn hay không? Dĩ nhiên là các nghĩa vụ này phải trả bằng tiền mặt.

Theo lý luận, nếu doanh nghiệp có bất cứ một lượng tiền mặt nào cao hơn mức cần thiết đó thì lượng tiền mặt đó nên được phân phối lại cho các cổ đông thông qua cổ tức hoặc mua lại cổ phần. Sau đó, nếu các nhà quản trị tìm thấy các cơ hội đầu tư mới, họ có thể ra thị trường vốn phát hành cổ phần để huy động lượng vốn cần thiết.

Thực tế thì việc doanh nghiệp có nhiều tiền mặt cũng có những điểm tốt. Nhà đầu tư không phải là người bên trong doanh nghiệp nên thông thường nếu nhìn thấy khoản mục tiền mặt trên bảng cân đối kế toán nhiều bao giờ cũng yên tâm hơn so với các doanh nghiệp có lượng tiền mặt ít hơn. Nhất là khi qua các quý, hoặc qua các năm, lượng tiền mặt tăng lên đều đặn và ổn định, nó là một tín hiệu cho thấy doanh nghiệp đang hoạt động rất tốt, đang phát triển rất mạnh. Tiền mặt tích lũy quá nhanh đến mức các nhà quản trị không kịp có thời gian để lên kế hoạch sử dụng chúng sao cho có hiệu quả nhất.

Microsoft là một thí dụ. Trong ngành công nghiệp sản xuất phần mềm, có lẽ tên tuổi của Microsoft đã nổi tiếng toàn thế giới. Microsoft hoạt động quá tốt đến mức dòng tiền mặt hằng năm luôn nhiều hơn 40 tỷ USD. Do doanh thu vẫn tiếp tục tăng trưởng mạnh và tiền mặt cứ thế tăng lên nhanh chóng. Các doanh nghiệp thành công khác trong các ngành như sản xuất phần mềm và dịch vụ, giải trí và truyền thông thường không bị đòi hỏi về chi tiêu vốn nhiều như các công ty trong các ngành thâm dụng vốn.

Vì vậy, tiền mặt của các doanh nghiệp ấy cứ thế tăng lên. Trong khi đó, các doanh nghiệp phải chi tiêu vốn nhiều như các nhà sản xuất thép, phải thường xuyên đầu tư rất nhiều cho các trang thiết bị, dâyimages1253806_money.jpgchuyền sản xuất và nguyên vật liệu sản xuất. Các doanh nghiệp trong các ngành thâm dụng vốn như vậy thường cần duy trì lượng tiền mặt cần thiết trong một thời gian dài hơn bởi vì vòng quay tiền mặt của chúng không thể nhanh như các doanh nghiệp trong các ngành khác.

Hơn thế nữa, nhà đầu tư nên biết rằng các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất, dịch vụ có tính chu kỳ thì cần duy trì lượng tiền mặt nhiều để vượt qua giai đoạn đi xuống của chu kỳ sản xuất. Ví dụ như Boeing hay BMW, lượng cầu đối với các mặt hàng này thường tăng cao trong một thời điểm nhất định của chu kỳ kinh doanh và sau đó họ lại phải đối mặt với giai đoạn khác của chu kỳ khiến cho lượng tiền mặt bị sụt giảm nhanh chóng. Do đó, đối với các doanh nghiệp như vậy thì họ cần có một lượng tiền mặt dự trữ nhiều hơn mức cần thiết để đáp ứng cho các nghĩa vụ ngắn hạn của họ.

Nói như thế không có nghĩa là bao giờ có nhiều tiền mặt hơn mức lý thuyết đưa ra cũng tốt. Một mức tiền mặt cao thể hiện trong bảng cân đối kế toán có thể khiến cho nhà đầu tư đặt câu hỏi, nhất là khi lượng tiền mặt đột nhiên cao hơn mức bình thường. Tại sao các nhà quản trị lại để tiền mặt ở đó mà không đem đi sử dụng? Nhà đầu tư có quyền nghi ngờ vì doanh nghiệp đã mất các cơ hội đầu tư hoặc là ban quản trị doanh nghiệp quá yếu kém nên đã không thể biết làm gì với lượng tiền mặt đó. Việc để tiền mặt trong doanh nghiệp quá nhiều luôn có chi phí cơ hội.

Chi phí cơ hội của tiền mặt trong trường hợp này được hiểu là sự khác nhau giữa nhau giữa lãi suất có được khi nắm giữ tiền mặt (tiền gửi không kỳ hạn ở ngân hàng cũng được xem như là tiền mặt) và cái giá phải trả để có tiền mặt. Cái giá phải trả để nắm giữ tiền mặt, đó chính là chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp WACC. Nếu một doanh nghiệp khi đầu tư vào một dự án mới hoặc mở rộng sản xuất có khả năng tạo ra tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần là 20%, thì chi phí cơ hội của việc nắm giữ nhiều tiền mặt thật sự là đắt. Bởi lãi suất cho tiền gửi không kỳ hạn khó lòng đạt tới 10%. Trong trường hợp tỷ suất sinh lợi của dự án thấp hơn mức chi phí sử dụng vốn trung bình WACC thì tiền mặt cũng không nên giữ lại tại doanh nghiệp, mà nên phân phối chúng lại cho các cổ đông dưới hình thức cổ tức hay mua lại cổ phần của doanh nghiệp.

Mặc dù, khi các nhà quản trị muốn gia tăng mức tiền mặt trong doanh nghiệp luôn đưa ra những lời giải thích có vẻ như rất hợp lý : tiền mặt nhiều có thể giúp doanh nghiệp linh hoạt hơn và thực hiện các phi vụ thâu tóm một cách nhanh chóng hơn. Thế nhưng bạn đừng quên rằng với các doanh nghiệp có lượng tiền mặt nhiều hơn mức cần thiết mà các lý thuyết đề nghị thì bạn phải chú ý nhiều hơn đến vấn đề đại diện.

Chi phí đại diện rất dễ xảy ra trong tình huống này, các nhà quản trị dễ dàng bị “quyến rũ” bởi sức hút của những toà biệt thự sang trọng. Do vậy, các quản trị cấp cao có thể sẽ thực hiện những vụ thâu tóm lãng phí và đầu tư vào các dự án kém hiệu quả nhằm tranh thủ tìm kiếm lợi ích cá nhân. Do đó, nếu bạn là nhà đầu tư, bạn hãy chú trọng nhiều hơn đến các doanh nghiệp xem việc dự trữ tìên mặt như một chiến lược cho các kế hoạch tái cấu trúc doanh nghiệp.

Vì rất có thể rằng động cơ bên trong đó chính là việc tư lợi của các nhà quản trị. Thậm chí trong tình huống tệ hơn, các doanh nghiệp có lượng tiền mặt quá dồi dào giúp cho các nhà quản trị giảm áp lực money.jpgcho quá trình vận hành doanh nghiệp. Họ không bị sức ép phải tính toán điều hành hợp lý nhất để đáp ứng được các nghĩa vụ ngắn hạn như các doanh nghiệp chỉ có lượng tiền mặt vừa phải theo mức cần thiết.

Nên nhớ rằng, ngoài mức tiền mặt cần thiết, bạn phải cảnh giác với bất cứ một lý giải nào cho việc tăng tiền mặt trong doanh nghiệp. Thị trường vốn luôn hiện hữu, nếu cần huy động vốn cho các dự án đầu tư tiềm năng thì thị trường vốn luôn sẵn sàng. Thị trường vốn với những yêu cầu khắt khe, vì thế doanh nghiệp sẽ thận trong hơn trước các quyết định đầu tư, và do đó sẽ giảm được chi phí đại diện.

Thay lời kết

Để bảo vệ cho danh mục đầu tư của bạn được an toàn, nhà đầu tư nên xem xét vị thế tiền mặt của doanh nghiệp qua các lý thuyết tài chính để tìm thấy một mức tiền mặt hợp lý trong doanh nghiệp. Đừng quên xem xét yếu tố dòng tiền tương lai, chu kỳ kinh doanh, các kế hoạch chi tiêu vốn, các nghĩa vụ phải trả khẩn cấp và các nhu cầu cần tiền mặt để chi trả khác khi tính toán doanh nghiệp thật sự cần lượng tiền mặt là bao nhiêu?

Tổng hợp từ saga.vn

Quản trị rủi ro trong tài chính doanh nghiệp

Quản trị rủi ro trong tài chính doanh nghiệp

Quản trị tài chính doanh nghiệp là quản trả các quan hệ tài chính phát sinh trong doanh nghiệp, bao gồm: lựa chọn để quyết định và tổ chức thực hiện các quyết định, các giải pháp về tài chính trong suốt quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đạt được những mục tiêu của hoạt động tài chính doanh nghiệp. Đây cũng là lĩnh vực tiềm ẩn những rủi ro lớn và không ít trường hợp, khi rủi ro xảy ra, việc khắc phục chúng trở thành bất khả kháng đối với các doanh nghiệp.

Những rủi ro thường gặp trong tài chính doanh nghiệp
Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông, “rủi ro là điều không lành mạnh, không tốt bất ngờ xảy ra”. Vậy, rủi ro trong tài chính là “những điều không lành mạnh, không tốt, bất ngờ xẩy ra trong tài chính doanh nghiệp”. Khoa học về quản trị tài chính doanh nghiệp (TCDN) và tổng kết từ thực tiễn đã cho thấy, rủi ro trong TCDN luôn luôn gắn liền với tình trạng lạm phát trong nền kinh tế và gồm có:

Một là, rủi ro về cân đối dòng tiền

Các luồng tiền vào doanh nghiệp (dòng thu) và các luồng tiền ra khỏi doanh nghiệp (dòng chi) diễn ra một cách thường xuyên liên tục. Trên thực tế, tại những thời điểm nhất định có thể xảy ra, hiện tượng lượng tiền vào doanh nghiệp (số thu) nhỏ hơn lượng tiền ra khỏi doanh nghiệp (số chi) đến hạn. Khi đó, tình trạng mất cân đối về dòng tiền đã xẩy ra. Sự mất cân đối này tiềm ẩn một rủi ro lớn đối với hoạt động kinh doanh. Do thiếu tiền, việc mua nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu... phục vụ cho sản xuất kinh doanh có thể bị dừng lại, dẫn đến ngừng sản xuất, kinh doanh; tiền lương của công nhân và các khoản vay (nếu có) không được trả đúng hạn ảnh hưởng lớn tới uy tín của doanh nghiệp, v.v...

Sự mất cân đối dòng tiền được chia thành: mất cân đối tạm thời và mất cân đối dài hạn. Có thể nói, ở bất kỳ doanh nghiệp nào cũng xảy ra mất cân đối tạm thời do việc thu hồi các khoản nợ phải thu không đúng kế hoạch; việc góp vốn không được thực hiện đúng cam kết... Mất cân đối tạm thời về dòng tiền có thể khắc phục được bằng nhiều biện pháp và hậu quả thường không lớn. Mất cân đối dài hạn xảy ra do những nguyên nhân quan trọng như: phần định phí trong tổng chi phí của doanh nghiệp quá lớn; vốn lưu động tự có quá ít; nợ khó đòi tăng lên; doanh thu chưa bù đắp đủ các khoản chi phí thường xuyên, v.v… Khi lạm phát xảy ra trong nền kinh tế, do tác động dây chuyền giữa các doanh nghiệp, số nợ phải thu, đặc biệt là nợ phải thu khó đòi tăng lên, mất cân đối tạm thời rất dễ chuyển thành mất cân đối dài hạn. Mất cân đối dài hạn về dòng tiền có thể làm cho doanh nghiệp bị phá sản.

Hai là, rủi do về lãi suất tiền vay
Để phục vụ kinh doanh, đầu tư, hầu như tất cả các doanh nghiệp đều phải sử dụng vốn vay. Do đó, lãi suất tiền vay - chi phí sử dụng vốn - trở thành bộ phận cấu thành quan trọng trong chi phí sản xuất kinh doanh và đầu tư của doanh nghiệp. Khi lập kế hoạch kinh doanh và dự án đầu tư, lãi suất tiền vay đã được dự tính. Song, có rất nhiều nhân tố nằm ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp tác động đến lãi suất tiền vay. Thông thường khi lạm phát xảy ra, lãi suất tiền vay tăng đột biến. Do đó, những tính toán, dự kiến trong kế hoạch kinh doanh, đầu tư bị đảo lộn. Một rủi ro lớn đã xảy ra và ảnh hưởng lớn tới hoạt động kinh doanh. Lượng tiền vay càng lớn, tác động tiêu cực của rủi ro này càng nghiêm trọng và có thể dẫn đến tình trạng phá sản doanh nghiệp nếu nó tồn tại trong một thời kỳ dài.

Ba là, rủi ro về sức mua của thị trường

Sức mua của thị trường là nhân tố quyết định khả năng tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp và do đó, nó cũng quyết định dòng tiền vào doanh nghiệp. Song, sức mua của thị trường lại phụ thuộc vào khả năng thanh toán. Khi lạm phát, giá cả hàng hóa trên thị trường tăng cao, thu nhập của người lao động và các tầng lớp dân cư không tăng hoặc tăng chậm hơn chỉ số lạm phát và tất yếu dẫn đến sức mua giảm. Quan trọng hơn nữa, cơ cấu tiêu dùng cũng thay đổi. Phần lớn khả năng thanh toán tập trung cho những nhu cầu thiết yếu. Vì vậy, sẽ có không ít mặt hàng lượng tiêu thụ sẽ giảm đi đáng kể. Khi đó, rủi ro về sức mua của thị trường đã xảy ra. Nó thể hiện qua số lượng hàng hóa tiêu thụ được giảm, giá bán không bù đắp được chi phí sản xuất, kinh doanh.

Bốn là, rủi ro về tỷ giá hối đoái

Là rủi ro xẩy ra khi các giao dịch kinh tế được thực hiện bằng ngoại tệ và tỷ giá hối đoái biến động theo hướng làm cho đồng nội tệ bị mất giá. Với những doanh nghiệp sử dụng nhiều ngoại tệ, khi tỷ giá hối đoái tăng, số lỗ về tỷ giá có thể làm giảm đáng kể, thậm chí là triệt tiêu toàn bộ lợi nhuận thu được trong kinh doanh. Đây là rủi ro bất khả kháng của các doanh nghiệp trong một nền kinh tế nhập siêu với tỷ lệ lớn.

Năm là, rủi ro về khả năng tái đầu tư

Muốn phát triển bền vững, quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp phải diễn ra liên tục, vòng sau phải cao hơn vòng trước. Đó chính là quá trình tái đầu tư. Nguồn vốn để tái đầu tư là quỹ khấu hao, lợi nhuận thu được từ quá trình sản xuất kia doanh trước đó. Khi lạm phát xẩy ra, nguồn vốn để tái đầu tư bị giảm đi, thậm chí là một số âm. Do đó, khả năng tái đầu tư bị triệt tiêu, doanh nghiệp sẽ không thể hoạt động liên tục, quy mô kinh doanh bị thu hẹp. Nếu điều đó xẩy ra trong một thời gian dài, doanh nghiệp có thể sẽ "biến mình trên thị trường. Với những doanh nghiệp đang thực hiện các dự án đầu tư lạm phát có thể làm cho dự án đầu tư phải dừng lại thậm chí là "nằm chờ vĩnh viễn" do tổng mức đầu tư tăng đột biến, lãi suất tiền vay tăng cao, việc vay vốn bị chặn lại...

Quản trị rủi ro trong tài chính

Các doanh nghiệp - phòng hơn chống

Nguyên nhân xảy ra các rủi ro về tài chính doanh nghiệp có ở tầm vi mô - hay là công tác quản trị của bản thân các doanh nghiệp và cả ở tầm vĩ mô - hay là những biến động trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Vì vậy, phòng ngừa rủi ro từ việc quản trị và điều hành hàng ngày phải được coi là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong việc quản từ các rủi ro đối với từng doanh nghiệp. Với nhiệm vụ đặc biệt quan trọng này, các doanh nghiệp cần thực hiện những biện pháp sau đây:

Tôn trọng nguyên tắc thận trọng khi lập kế hoạch KD hoặc dự án đầu tư: Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết để lập các ước tính trong KD, đầu tư. Nguyên tắc thận trọng đòi hỏi:

Phải lập các khoản dự phòng nhưng không tạp quá lớn;
Không đánh giá cao hơn giá trị của các TS và các khoản thu nhập;
Không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí;
Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả năng thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng về khả năng phát sinh chi phí.
Thường xuyên phân tích tình hình tài chính nhằm nhận diện những điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp. Một trong những công cụ để phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp là xác định và đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp thông qua sự biến động của các chỉ tiêu tài chính quan trọng như: Hệ số vốn tự có; Hệ số thanh toán hiện thời; Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn; Hệ số thanh toán nhanh; Hệ số thanh toán của vốn lưu động. v.v...
Quản lý chặt chẽ nợ phải trả và nợ phải thu: Biện pháp này đòi hỏi các doanh nghiệp phải thường xuyên nắm chắc danh mục các khoản nợ phải trả và nợ phải thu; có kế hoạch thanh toán nợ và thu nợ; không để nợ phải trả cộng dồn quá lớn và không để phát sinh nợ phải thu khó đòi...
Thực hiện nghiêm túc các quy định về thời hạn trong kinh doanh, đầu tư: Trong kinh doanh, cố gắng thực hiện các thương vụ với thời hạn ngắn; trong đầu tư, tập trung giải quyết dứt điểm từng phần công việc theo đúng tiến độ… Điều đó sẽ giúp doanh nghiệp tránh được sự biến động bất khả kháng của thị trường.
Kiện toàn bộ máy kế toán, thực hiện nghiêm túc chế độ kế toán quản trị để thường xuyên có được những thông tin trung thực, chính xác và đầy đủ về tình hình tài chính của doanh nghiệp phục vụ cho việc phân tích và ra những quyết định quản lý. Đồng thời, bên cạnh lực lượng cán bộ kế toán, mỗi doanh nghiệp cần có một giám đốc tài chính - người thực hiện chức năng quản trị tài chính của doanh nghiệp; thực hiện những biện pháp phòng ngừa rủi ro trong tài chính doanh nghiệp.

Nhà nước - Không thể đứng ngoài cuộc
Các rủi ro trong tài chính doanh nghiệp thường gắn liền với hiện tượng lạm phát trong nền kinh tế. Lạm phát xảy ra do rất nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là những nguyên nhân khách quan từ thị trường thế giới, từ việc điều hành kinh tế vĩ mô của Nhà nước. Hơn nữa, các doanh nghiệp là những tế bào của nền kinh tế quốc dân, là nơi tạo ra của cải vật chất, là lực lượng chủ yếu trong việc đóng góp vào ngân sách nhà nước. Do đó, khi lạm phát xảy ra, các doanh nghiệp phải đối mặt với tất cả các rủi ro về tài chính thì nhà nước không thể đứng ngoài cuộc.

Có một số ý kiến cho rằng, lạm phát lại là một thời cơ để thị trường thanh lọc và loại trừ các doanh nghiệp yếu; để các doanh nghiệp tiến hành cải tổ và phát triển bền vững hơn. Điều đó không hoàn toàn sai. Song, cũng không nên quá nhấn mạnh ý nghĩa của điều đó rồi phó mặc cho các doanh nghiệp “lặn, ngụp” trong vô vàn khó khăn do lạm phát. Lạm phát là một căn bệnh của nền kinh tế. Không ai nhờ bệnh dịch để thanh lọc cuộc sống con người. Vì vậy Nhà nước - người có quyền thu thuế và có chức năng quản lý nền kinh tế quốc dân - cần có những biện pháp cấp bách và hữu hiệu để giúp các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, chống đỡ được với những rủi ro về tài chính do lạm phát.


( Nguồn: http://doanhnhan360.com)


Share

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More