This is default featured post 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured post 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured post 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured post 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured post 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

Nov 14, 2009

Đòn bẩy vốn: Trung gian Tài chính

Đòn bẩy vốn: Trung gian Tài chính


Trung gian tài chính, tức là quá trình một tổ chức thường là một tổ chức tương đối lớn và ổn định, đứng ra vay vốn rồi cho các tổ chức nhỏ hơn, có độ an toàn ít hơn vay lại. Những tổ chức nhỏ khi đi vay tiền sẽ phải trả lãi suất cao hơn lãi suất mà tổ chức lớn phải trả khi đi vay tiền. Quá trình này có vẻ như là một quá trình tự sinh lời song vấn đề là ở chỗ liệu các tổ chức vay lại có trả được lãi suất đủ cao để bù đắp lại tính rủi ro cao hơn mà tổ chức vay lần 1 phải chịu cũng như chi phí trả nợ hay không.

Việc sử dụng cả vốn đi vay và vốn tự có để đầu tư được gọi là sử dụng đòn bẩy tài chính. Tỷ lệ của các quỹ đi vay trên quỹ hiện có (hay tỷ lệ nợ/tài sản) được gọi là tỷ số vay nợ. Các tổ chức doanh nghiệp hoạt động trong mọi lĩnh vực đều sử dụng đòn bẩy tài chính.

Các tập đoàn Mỹ trước đây nhìn chung có tỷ số vay nợ vào khoảng 1.0; tức là 1 đồng vốn vay trên 1 đồng vốn tự có. Điều này có nghĩa là nhìn chung khoản cổ phần đóng góp của các cổ đông ngang bằng với khoản vốn đi vay thông qua hình thức phát hành trái phiếu công ty. Trong những thập kỷ gần đây, tỷ số vay nợ của các tập đoàn Mỹ đã và đang có xu hướng vượt qua mức 1.0. Các tập đoàn nằm ngoài nước Mỹ như Nhật Bản có tỷ số vay nợ cao hơn những tập đoàn khác ở Mỹ. Các tập đoàn trong những ngành công nghiệp khác ở Mỹ có thể có các tỷ số vay nợ tương đối khác biệt so với tỷ lệ trung bình ở Mỹ.

Các ngân hàng thương mại có tỷ số vay nợ cao hơn tỷ lệ bình quân của các tập đoàn khác nhiều lần bởi nó chính là tỷ lệ giữa nợ có hạn và giá trị ròng của ngân hàng đó. Các ngân hàng thương mại bảo hiểm của những năm 1980's có tỷ số vay nợ bình quân cao hơn mức 15/1 một chút. Các liên đoàn tín dụng thường có tỷ số vay nợ bằng không. Các tổ chức doanh nghiệp cho vay lại khoản vốn mà họ có. Bằng cách đó họ có thể thu được tỷ lệ lợi nhuận cao hơn từ các quỹ cổ phần của mình. Tái cho vay có thể đem lại lợi nhuận cao hơn từ các quỹ đầu tư nếu tỷ lệ lợi nhuận thu được từ các quỹ cho vay cao hơn tỷ lệ lãi suất đi vay.

Trong trường hợp này lợi nhuận thu được từ chênh lệch lãi suất sẽ tích tụ dần thành vốn cổ phần và có thể đem lại một tỷ lệ lợi nhuận cao cho các quỹ cổ phần. Có một ví dụ mô tả sức mạnh của công cụ đòn bẩy tài chính.

Giả định một tổ chức có trong tay một triệu đô la Mỹ cổ phần và đi vay 4 triệu đô la Mỹ với lãi suất 8%. Tỷ số vay nợ L lúc đó sẽ là 4. Nếu đem toàn bộ 5 triệu đô la Mỹ đó tái cho vay hoặc đầu tư và tỷ lệ lợi nhuận thu được là 10% thì tổ chức đó đã kiếm được $500,000 trong khi chỉ phải trả tiền lãi là $320,000. Tổ chức này thu được lợi nhuận cổ phần là $180,000. Như vậy tổ chức này thu được tỷ suất lợi nhuận bổ sung là 18%, tức là $180,000 lợi nhuận thu được so với 1 triệu đô vốn gốc.

Đây là khía cạnh tích cực của việc sử dụng đòn bẩy tài chính. Tuy nhiên, nếu do những trường hợp không lường trước nào đó, tỷ suất lợi nhuận của quỹ vốn đầu tư giảm xuống chỉ còn 6% thì tổ chức đó chỉ thu được $300,000 trong khi phải thanh toán một khoản lãi là $320,000. Điều này có nghĩa là chủ vốn phải chịu một khoản lỗ là $20,000. Tỷ suất lợi nhuận lúc này là -2%. Bất kể một sự dao động nào trong tỷ suất lợi nhuận của quỹ đầu tư tương đương với lãi suất nợ có thể bị khuyếch đại bởi đòn bẩy tài chính.

Trong ví dụ này thì việc tỷ suất lợi nhuận dao động từ mức cao hơn lãi suất là 2% xuống mức thấp hơn lãi suất là 2% dẫn đến tỷ suất lợi nhuận dao động từ mức 18% (lên thiên đường) xuống mức chỉ còn -2% (xuống địa ngục). Chênh lệch 4% trong tỷ suất lợi nhuận của quỹ đầu tư đã tạo ra độ chênh lệch 20% trong tỷ suất cổ phần, tỷ lệ ở đây là 5/1 Bây giờ xét một trường hợp ít cực đoan hơn của việc sử dụng đòn bẩy tài chính. Giả định rằng tổ chức đó vay $500,000 để cùng đầu tư với $1 triệu vốn cổ phần. Tỷ số vay nợ lúc đó là 0.5. Nếu như tỷ lệ lãi suất nợ là 8% và tỷ suất lợi nhuận của tổng tài sản là 10% thì lúc đó tổ chức này đã thu được $150,000 trong khi phải thanh toán một khoản lãi là $40,000. Chủ cổ phần lúc này thu được một khoản lời là $110,000 để cộng thêm vào vốn cổ phần của mình. Với một khoản lời như vậy thì tỷ suât lợi nhuận thu được trên số vốn $1 triệu là 11%. Việc sử dụng đòn bẩy tài chính tăng tỷ suất lợi nhuận của vốn cổ phần từ 10% lên 11%. Một biến cố không thuận khiến cho tỷ suất lợi nhuận của tài sản giảm từ 10% xuống còn 6% sẽ làm giảm lợi nhuận thu được xuống còn $90,000. Sau khi trả $40,000 tiền lãi, khoản tiền còn lại của chủ cổ phần là $50,000. Tỷ suất lợi nhuận ở đây là 5%. Do đó, tỷ suất lợi nhuận đã giảm từ 11% xuống còn 5%. Tỷ suất lợi nhuận giảm xuống 6% do kết quả của việc tỷ suất lợi nhuận tài sản giảm 4%. Tỷ lệ giữa dao động của tỷ suất lợi nhuận cổ phần trên dao động của tỷ suất lợi nhuận tài sản là 1.5.

Công thức chung được áp dụng là:

Tỷ suất lợi nhuận Cổ phần = Tỷ suất lợi nhuận các Quỹ đầu tư + L(Tỷ suất lợi nhuận các Quỹ đầu tư - Tỷ lệ lãi suất các Quỹ đi vay) trong đó L một lần nữa lại đại diện cho tỷ số vay nợ.

Diễn đạt một cách cô đọng hơn, công thức trên có dạng sau: Rcổ phần = Rđầu tư + L(Rđầu tư - Rnợ)

(Lưu ý rằng công thức này không tính đến chi phí hành chính của một tổ chức tài chính cũng như chi phí cho việc trả nợ của các món vay cá nhân hay đầu tư cá nhân. Tất cả những nhân tố này đóng vai trò quan trọng đối với một tổ chức tài chính song chúng làm mờ đi vấn đề chung của đòn bẩy tài chính.)

Ví dụ nêu trên cũng như công thức tỷ suất lợi nhuận cổ phần mô tả tác động của việc sử dụng đòn bẩy tài chính. Với tỷ số vay nợ lớn hơn 1.0 việc sử dụng đòn bẩy tài chính khuyếch đại độ chênh lệch giữa tỷ suất lợi nhuận tài sản và tỷ lệ lãi suất nợ. Song mức chênh lệch này có thể có tác động tích cực, cũng có thể có tác động tiêu cực.

Biểu đồ dưới đây mô tả tác động của việc sử dụng đòn bẩy tài chính. Nó cho ta thấy những chu kỳ giả thuyết về tỷ suất lợi nhuận của tài sản đầu tư. Đôi khi tỷ suất lợi nhuận tài sản giảm xuống dưới mức lãi suất của các quỹ đi vay. Trong trường hợp minh hoạ trên biểu đồ này thì tỷ số vay nợ là 1.5. Tỷ suất lợi nhuận tài sản bình quân cao hơn lãi suất đi vay và tỷ suất lợi nhuận cổ phần cao hơn tỷ suất lợi nhuận tài sản bình quân. Việc sử dụng đòn bẩy tài chính đã đem lại điều này.

Trong trường hợp tỷ số vay nợ nhỏ hơn mức 0.5 rất nhiều thì những dao động trong tỷ suất lợi nhuận cổ phần sẽ ít hơn rất nhiều. Đối với cá ctỷ số vay nợ nhỏ hơn 1.0 thì tỷ suất lợi nhuận tài sản chỉ thay đổi chút ít. Tỷ suất lợi nhuận không nhất thiết lúc nào cũng phải giảm xuống mức thấp hơn lãi suất nợ. Dưới đây là một trường hợp như vậy: Khi thảo luận về bất kỳ chủ đề gì liên quan đến rủi ro thì chúng ta gặp phải một vấn đề là từ rủi ro có thể mang nhiều nghĩa khác nhau.

Trong kinh tế tài chính thì rủi ro thường có nghĩa là độ biến thiên của tỷ suất lợi nhuận. Còn trong thị trường chứng khoán và vốn vay khi lợi nhuận đã được xác định thì rủi ro là ngầm định. Rủi ro là một vấn đề đặc biệt quan trọng cho các tổ chức gắn kết các quỹ vốn tự có với các quỹ vốn đi vay. Tổ chức đó buộc phải trả tiền lãi cho khoản tiền đi vay theo hợp đồng vay vốn. Bởi thế, bất kỳ một thay đổi nào của tỷ suất lợi nhuận thu được từ khoản vốn đi vay đều có thể có tác động lớn đến tỷ suất lợi nhuận của nguồn vốn tự có của tổ chức đó.

Mối quan hệ chung tồn tại giữa rủi ro của vốn đi vay (vốn đầu tư) và rủi ro đối với người nắm cổ phần của tổ chức đó là:

Rủi ro Cổ phần = (L+1)x(Rủi ro vốn đầu tư) trong đó L là tỷ số vay nợ (Vốn vay/Vốn cổ phần).

Trong ví dụ đầu tiên ở trên thì một dao động trong tỷ suất lợi nhuận tài sản là 4% sẽ dẫn đến một dao động là 20% trong tỷ lệ lợi nhuận cổ phần.tỷ số vay nợ trong trường hợp này là 4. Độ dao động trong tỷ suất lợi nhuận cổ phần là (4+1)x4. Trong trường hợp thứ haitỷ số vay nợ là 0.5 và độ dao động trong tỷ suất lợi nhuận là 6% và độ dao động trong tỷ suất lợi nhuận tài sản là 4%. Con số 6% bằng (0.5 + 1)x4 là đồng nhất với công thức.

Mối quan hệ giữa tỷ suất lợi nhuận cổ phần và rủi ro trong trường hợp sử dụng đòn bẩy tài chính chỉ là một trường hợp đặc biệt của mối quan hệ hcung giữa rủi ro và lợi nhuận. Thị trường thiết lập một mối quan hệ giữa rủi ro của một hoạt động và tỷ suất lợi nhuận dự kiến của nó.

Doanh nghiệp có nhiều tiền mặt, tốt hay không?

Doanh nghiệp có nhiều tiền mặt, tốt hay không?

Dường như tiền mặt luôn là một cái gì đó mà ai cũng thích sở hữu, doanh nghiệp cũng vậy. Thế nhưng việc doanh nghiệp có quá nhiều tiền mặt liệu có phải là một điều tốt?

Chúng ta biết rằng hầu hết các doanh nghiệp vận hành đều chú ý sử dụng lợi ích từ việc vay nợ. Trong điều kiện hoạt động bình thường, tài trợ bằng nợ có thể giúp doanh nghiệp gia tăng khả năng sinh lợi, thế nhưng nhà đầu tư nào cũng biết đến mặt trái của nợ. Khi mọi thứ không diễn biến như các kế hoạch, thì nợ có thể khiến doanh nghiệp gặp vấn đề nghiêm trọng.

Thế còn vị thế tiền mặt của doanh nghiệp thì sao? Qúa nhiều nợ chắc chắn là một điều không tốt, liệu điều đó có đúng với tiền mặt?

Trước tiên, có vẻ như nhà đầu tư luôn tìm kiếm các doanh nghiệp có lượng tiền mặt dồi dào thể hiện trên bảng cân đối kế toán, bởi vì họ tin rằng nhiều tiền mặt sẽ giúp doanh nghiệp xử lý một cách dễ dàng nếu các kế hoạch kinh doanh đang xấu đi và nó cũng cho doanh nghiệp nhiều sự lựa chọn hơn trong việc tìm kiếm các cơ hội đầu tư trong tương lai.

Thật không may, chẳng có gì là đơn giản, tiền mặt cũng vậy. Lượng tiền mặt trên bảng cân đối kế toán của mỗi doanh nghiệp sẽ được nhà đầu tư hiểu với nhiều các tác động tín hiệu khác nhau: gồm cả tín hiệu tốt và tín hiệu xấu. Dĩ nhiên là nếu hiểu rõ được nguồn hình thành các khoản tiền mặt cho doanh nghiệp, loại hình doanh nghiệp và các kế hoạch mà các nhà quản trị đang dự định thực hiện sẽ giúp nhà đầu tư có cái nhìn chuẩn xác hơn.

Các lý thuyết tài chính doanh nghiệp nói rằng mỗi doanh nghiệp nên có một mức tiền mặt thích hợp cho doanh nghiệp mình, một lượng đủ để thanh toán lãi vay, các chi phí và chi tiêu vốn, ngoài ra còn phải dự trữ thêm một ít nữa để doanh nghiệp kịp xử lý trong những tình huống khẩn cấp. Nhà đầu tư có thể tính toán chỉ số thanh toán hiện hành và chỉ số thanh toán nhanh của doanh nghiệp để xác định khả năng doanh nghiệp có thể đáp ứng các nghĩa vụ tài chính đến hạn hay không? Dĩ nhiên là các nghĩa vụ này phải trả bằng tiền mặt.

Theo lý luận, nếu doanh nghiệp có bất cứ một lượng tiền mặt nào cao hơn mức cần thiết đó thì lượng tiền mặt đó nên được phân phối lại cho các cổ đông thông qua cổ tức hoặc mua lại cổ phần. Sau đó, nếu các nhà quản trị tìm thấy các cơ hội đầu tư mới, họ có thể ra thị trường vốn phát hành cổ phần để huy động lượng vốn cần thiết.

Thực tế thì việc doanh nghiệp có nhiều tiền mặt cũng có những điểm tốt. Nhà đầu tư không phải là người bên trong doanh nghiệp nên thông thường nếu nhìn thấy khoản mục tiền mặt trên bảng cân đối kế toán nhiều bao giờ cũng yên tâm hơn so với các doanh nghiệp có lượng tiền mặt ít hơn. Nhất là khi qua các quý, hoặc qua các năm, lượng tiền mặt tăng lên đều đặn và ổn định, nó là một tín hiệu cho thấy doanh nghiệp đang hoạt động rất tốt, đang phát triển rất mạnh. Tiền mặt tích lũy quá nhanh đến mức các nhà quản trị không kịp có thời gian để lên kế hoạch sử dụng chúng sao cho có hiệu quả nhất.

Microsoft là một thí dụ. Trong ngành công nghiệp sản xuất phần mềm, có lẽ tên tuổi của Microsoft đã nổi tiếng toàn thế giới. Microsoft hoạt động quá tốt đến mức dòng tiền mặt hằng năm luôn nhiều hơn 40 tỷ USD. Do doanh thu vẫn tiếp tục tăng trưởng mạnh và tiền mặt cứ thế tăng lên nhanh chóng. Các doanh nghiệp thành công khác trong các ngành như sản xuất phần mềm và dịch vụ, giải trí và truyền thông thường không bị đòi hỏi về chi tiêu vốn nhiều như các công ty trong các ngành thâm dụng vốn.

Vì vậy, tiền mặt của các doanh nghiệp ấy cứ thế tăng lên. Trong khi đó, các doanh nghiệp phải chi tiêu vốn nhiều như các nhà sản xuất thép, phải thường xuyên đầu tư rất nhiều cho các trang thiết bị, dâyimages1253806_money.jpgchuyền sản xuất và nguyên vật liệu sản xuất. Các doanh nghiệp trong các ngành thâm dụng vốn như vậy thường cần duy trì lượng tiền mặt cần thiết trong một thời gian dài hơn bởi vì vòng quay tiền mặt của chúng không thể nhanh như các doanh nghiệp trong các ngành khác.

Hơn thế nữa, nhà đầu tư nên biết rằng các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất, dịch vụ có tính chu kỳ thì cần duy trì lượng tiền mặt nhiều để vượt qua giai đoạn đi xuống của chu kỳ sản xuất. Ví dụ như Boeing hay BMW, lượng cầu đối với các mặt hàng này thường tăng cao trong một thời điểm nhất định của chu kỳ kinh doanh và sau đó họ lại phải đối mặt với giai đoạn khác của chu kỳ khiến cho lượng tiền mặt bị sụt giảm nhanh chóng. Do đó, đối với các doanh nghiệp như vậy thì họ cần có một lượng tiền mặt dự trữ nhiều hơn mức cần thiết để đáp ứng cho các nghĩa vụ ngắn hạn của họ.

Nói như thế không có nghĩa là bao giờ có nhiều tiền mặt hơn mức lý thuyết đưa ra cũng tốt. Một mức tiền mặt cao thể hiện trong bảng cân đối kế toán có thể khiến cho nhà đầu tư đặt câu hỏi, nhất là khi lượng tiền mặt đột nhiên cao hơn mức bình thường. Tại sao các nhà quản trị lại để tiền mặt ở đó mà không đem đi sử dụng? Nhà đầu tư có quyền nghi ngờ vì doanh nghiệp đã mất các cơ hội đầu tư hoặc là ban quản trị doanh nghiệp quá yếu kém nên đã không thể biết làm gì với lượng tiền mặt đó. Việc để tiền mặt trong doanh nghiệp quá nhiều luôn có chi phí cơ hội.

Chi phí cơ hội của tiền mặt trong trường hợp này được hiểu là sự khác nhau giữa nhau giữa lãi suất có được khi nắm giữ tiền mặt (tiền gửi không kỳ hạn ở ngân hàng cũng được xem như là tiền mặt) và cái giá phải trả để có tiền mặt. Cái giá phải trả để nắm giữ tiền mặt, đó chính là chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp WACC. Nếu một doanh nghiệp khi đầu tư vào một dự án mới hoặc mở rộng sản xuất có khả năng tạo ra tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần là 20%, thì chi phí cơ hội của việc nắm giữ nhiều tiền mặt thật sự là đắt. Bởi lãi suất cho tiền gửi không kỳ hạn khó lòng đạt tới 10%. Trong trường hợp tỷ suất sinh lợi của dự án thấp hơn mức chi phí sử dụng vốn trung bình WACC thì tiền mặt cũng không nên giữ lại tại doanh nghiệp, mà nên phân phối chúng lại cho các cổ đông dưới hình thức cổ tức hay mua lại cổ phần của doanh nghiệp.

Mặc dù, khi các nhà quản trị muốn gia tăng mức tiền mặt trong doanh nghiệp luôn đưa ra những lời giải thích có vẻ như rất hợp lý : tiền mặt nhiều có thể giúp doanh nghiệp linh hoạt hơn và thực hiện các phi vụ thâu tóm một cách nhanh chóng hơn. Thế nhưng bạn đừng quên rằng với các doanh nghiệp có lượng tiền mặt nhiều hơn mức cần thiết mà các lý thuyết đề nghị thì bạn phải chú ý nhiều hơn đến vấn đề đại diện.

Chi phí đại diện rất dễ xảy ra trong tình huống này, các nhà quản trị dễ dàng bị “quyến rũ” bởi sức hút của những toà biệt thự sang trọng. Do vậy, các quản trị cấp cao có thể sẽ thực hiện những vụ thâu tóm lãng phí và đầu tư vào các dự án kém hiệu quả nhằm tranh thủ tìm kiếm lợi ích cá nhân. Do đó, nếu bạn là nhà đầu tư, bạn hãy chú trọng nhiều hơn đến các doanh nghiệp xem việc dự trữ tìên mặt như một chiến lược cho các kế hoạch tái cấu trúc doanh nghiệp.

Vì rất có thể rằng động cơ bên trong đó chính là việc tư lợi của các nhà quản trị. Thậm chí trong tình huống tệ hơn, các doanh nghiệp có lượng tiền mặt quá dồi dào giúp cho các nhà quản trị giảm áp lực money.jpgcho quá trình vận hành doanh nghiệp. Họ không bị sức ép phải tính toán điều hành hợp lý nhất để đáp ứng được các nghĩa vụ ngắn hạn như các doanh nghiệp chỉ có lượng tiền mặt vừa phải theo mức cần thiết.

Nên nhớ rằng, ngoài mức tiền mặt cần thiết, bạn phải cảnh giác với bất cứ một lý giải nào cho việc tăng tiền mặt trong doanh nghiệp. Thị trường vốn luôn hiện hữu, nếu cần huy động vốn cho các dự án đầu tư tiềm năng thì thị trường vốn luôn sẵn sàng. Thị trường vốn với những yêu cầu khắt khe, vì thế doanh nghiệp sẽ thận trong hơn trước các quyết định đầu tư, và do đó sẽ giảm được chi phí đại diện.

Thay lời kết

Để bảo vệ cho danh mục đầu tư của bạn được an toàn, nhà đầu tư nên xem xét vị thế tiền mặt của doanh nghiệp qua các lý thuyết tài chính để tìm thấy một mức tiền mặt hợp lý trong doanh nghiệp. Đừng quên xem xét yếu tố dòng tiền tương lai, chu kỳ kinh doanh, các kế hoạch chi tiêu vốn, các nghĩa vụ phải trả khẩn cấp và các nhu cầu cần tiền mặt để chi trả khác khi tính toán doanh nghiệp thật sự cần lượng tiền mặt là bao nhiêu?

Tổng hợp từ saga.vn

Quản trị rủi ro trong tài chính doanh nghiệp

Quản trị rủi ro trong tài chính doanh nghiệp

Quản trị tài chính doanh nghiệp là quản trả các quan hệ tài chính phát sinh trong doanh nghiệp, bao gồm: lựa chọn để quyết định và tổ chức thực hiện các quyết định, các giải pháp về tài chính trong suốt quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đạt được những mục tiêu của hoạt động tài chính doanh nghiệp. Đây cũng là lĩnh vực tiềm ẩn những rủi ro lớn và không ít trường hợp, khi rủi ro xảy ra, việc khắc phục chúng trở thành bất khả kháng đối với các doanh nghiệp.

Những rủi ro thường gặp trong tài chính doanh nghiệp
Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông, “rủi ro là điều không lành mạnh, không tốt bất ngờ xảy ra”. Vậy, rủi ro trong tài chính là “những điều không lành mạnh, không tốt, bất ngờ xẩy ra trong tài chính doanh nghiệp”. Khoa học về quản trị tài chính doanh nghiệp (TCDN) và tổng kết từ thực tiễn đã cho thấy, rủi ro trong TCDN luôn luôn gắn liền với tình trạng lạm phát trong nền kinh tế và gồm có:

Một là, rủi ro về cân đối dòng tiền

Các luồng tiền vào doanh nghiệp (dòng thu) và các luồng tiền ra khỏi doanh nghiệp (dòng chi) diễn ra một cách thường xuyên liên tục. Trên thực tế, tại những thời điểm nhất định có thể xảy ra, hiện tượng lượng tiền vào doanh nghiệp (số thu) nhỏ hơn lượng tiền ra khỏi doanh nghiệp (số chi) đến hạn. Khi đó, tình trạng mất cân đối về dòng tiền đã xẩy ra. Sự mất cân đối này tiềm ẩn một rủi ro lớn đối với hoạt động kinh doanh. Do thiếu tiền, việc mua nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu... phục vụ cho sản xuất kinh doanh có thể bị dừng lại, dẫn đến ngừng sản xuất, kinh doanh; tiền lương của công nhân và các khoản vay (nếu có) không được trả đúng hạn ảnh hưởng lớn tới uy tín của doanh nghiệp, v.v...

Sự mất cân đối dòng tiền được chia thành: mất cân đối tạm thời và mất cân đối dài hạn. Có thể nói, ở bất kỳ doanh nghiệp nào cũng xảy ra mất cân đối tạm thời do việc thu hồi các khoản nợ phải thu không đúng kế hoạch; việc góp vốn không được thực hiện đúng cam kết... Mất cân đối tạm thời về dòng tiền có thể khắc phục được bằng nhiều biện pháp và hậu quả thường không lớn. Mất cân đối dài hạn xảy ra do những nguyên nhân quan trọng như: phần định phí trong tổng chi phí của doanh nghiệp quá lớn; vốn lưu động tự có quá ít; nợ khó đòi tăng lên; doanh thu chưa bù đắp đủ các khoản chi phí thường xuyên, v.v… Khi lạm phát xảy ra trong nền kinh tế, do tác động dây chuyền giữa các doanh nghiệp, số nợ phải thu, đặc biệt là nợ phải thu khó đòi tăng lên, mất cân đối tạm thời rất dễ chuyển thành mất cân đối dài hạn. Mất cân đối dài hạn về dòng tiền có thể làm cho doanh nghiệp bị phá sản.

Hai là, rủi do về lãi suất tiền vay
Để phục vụ kinh doanh, đầu tư, hầu như tất cả các doanh nghiệp đều phải sử dụng vốn vay. Do đó, lãi suất tiền vay - chi phí sử dụng vốn - trở thành bộ phận cấu thành quan trọng trong chi phí sản xuất kinh doanh và đầu tư của doanh nghiệp. Khi lập kế hoạch kinh doanh và dự án đầu tư, lãi suất tiền vay đã được dự tính. Song, có rất nhiều nhân tố nằm ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp tác động đến lãi suất tiền vay. Thông thường khi lạm phát xảy ra, lãi suất tiền vay tăng đột biến. Do đó, những tính toán, dự kiến trong kế hoạch kinh doanh, đầu tư bị đảo lộn. Một rủi ro lớn đã xảy ra và ảnh hưởng lớn tới hoạt động kinh doanh. Lượng tiền vay càng lớn, tác động tiêu cực của rủi ro này càng nghiêm trọng và có thể dẫn đến tình trạng phá sản doanh nghiệp nếu nó tồn tại trong một thời kỳ dài.

Ba là, rủi ro về sức mua của thị trường

Sức mua của thị trường là nhân tố quyết định khả năng tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp và do đó, nó cũng quyết định dòng tiền vào doanh nghiệp. Song, sức mua của thị trường lại phụ thuộc vào khả năng thanh toán. Khi lạm phát, giá cả hàng hóa trên thị trường tăng cao, thu nhập của người lao động và các tầng lớp dân cư không tăng hoặc tăng chậm hơn chỉ số lạm phát và tất yếu dẫn đến sức mua giảm. Quan trọng hơn nữa, cơ cấu tiêu dùng cũng thay đổi. Phần lớn khả năng thanh toán tập trung cho những nhu cầu thiết yếu. Vì vậy, sẽ có không ít mặt hàng lượng tiêu thụ sẽ giảm đi đáng kể. Khi đó, rủi ro về sức mua của thị trường đã xảy ra. Nó thể hiện qua số lượng hàng hóa tiêu thụ được giảm, giá bán không bù đắp được chi phí sản xuất, kinh doanh.

Bốn là, rủi ro về tỷ giá hối đoái

Là rủi ro xẩy ra khi các giao dịch kinh tế được thực hiện bằng ngoại tệ và tỷ giá hối đoái biến động theo hướng làm cho đồng nội tệ bị mất giá. Với những doanh nghiệp sử dụng nhiều ngoại tệ, khi tỷ giá hối đoái tăng, số lỗ về tỷ giá có thể làm giảm đáng kể, thậm chí là triệt tiêu toàn bộ lợi nhuận thu được trong kinh doanh. Đây là rủi ro bất khả kháng của các doanh nghiệp trong một nền kinh tế nhập siêu với tỷ lệ lớn.

Năm là, rủi ro về khả năng tái đầu tư

Muốn phát triển bền vững, quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp phải diễn ra liên tục, vòng sau phải cao hơn vòng trước. Đó chính là quá trình tái đầu tư. Nguồn vốn để tái đầu tư là quỹ khấu hao, lợi nhuận thu được từ quá trình sản xuất kia doanh trước đó. Khi lạm phát xẩy ra, nguồn vốn để tái đầu tư bị giảm đi, thậm chí là một số âm. Do đó, khả năng tái đầu tư bị triệt tiêu, doanh nghiệp sẽ không thể hoạt động liên tục, quy mô kinh doanh bị thu hẹp. Nếu điều đó xẩy ra trong một thời gian dài, doanh nghiệp có thể sẽ "biến mình trên thị trường. Với những doanh nghiệp đang thực hiện các dự án đầu tư lạm phát có thể làm cho dự án đầu tư phải dừng lại thậm chí là "nằm chờ vĩnh viễn" do tổng mức đầu tư tăng đột biến, lãi suất tiền vay tăng cao, việc vay vốn bị chặn lại...

Quản trị rủi ro trong tài chính

Các doanh nghiệp - phòng hơn chống

Nguyên nhân xảy ra các rủi ro về tài chính doanh nghiệp có ở tầm vi mô - hay là công tác quản trị của bản thân các doanh nghiệp và cả ở tầm vĩ mô - hay là những biến động trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Vì vậy, phòng ngừa rủi ro từ việc quản trị và điều hành hàng ngày phải được coi là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong việc quản từ các rủi ro đối với từng doanh nghiệp. Với nhiệm vụ đặc biệt quan trọng này, các doanh nghiệp cần thực hiện những biện pháp sau đây:

Tôn trọng nguyên tắc thận trọng khi lập kế hoạch KD hoặc dự án đầu tư: Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết để lập các ước tính trong KD, đầu tư. Nguyên tắc thận trọng đòi hỏi:

Phải lập các khoản dự phòng nhưng không tạp quá lớn;
Không đánh giá cao hơn giá trị của các TS và các khoản thu nhập;
Không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí;
Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả năng thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng về khả năng phát sinh chi phí.
Thường xuyên phân tích tình hình tài chính nhằm nhận diện những điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp. Một trong những công cụ để phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp là xác định và đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp thông qua sự biến động của các chỉ tiêu tài chính quan trọng như: Hệ số vốn tự có; Hệ số thanh toán hiện thời; Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn; Hệ số thanh toán nhanh; Hệ số thanh toán của vốn lưu động. v.v...
Quản lý chặt chẽ nợ phải trả và nợ phải thu: Biện pháp này đòi hỏi các doanh nghiệp phải thường xuyên nắm chắc danh mục các khoản nợ phải trả và nợ phải thu; có kế hoạch thanh toán nợ và thu nợ; không để nợ phải trả cộng dồn quá lớn và không để phát sinh nợ phải thu khó đòi...
Thực hiện nghiêm túc các quy định về thời hạn trong kinh doanh, đầu tư: Trong kinh doanh, cố gắng thực hiện các thương vụ với thời hạn ngắn; trong đầu tư, tập trung giải quyết dứt điểm từng phần công việc theo đúng tiến độ… Điều đó sẽ giúp doanh nghiệp tránh được sự biến động bất khả kháng của thị trường.
Kiện toàn bộ máy kế toán, thực hiện nghiêm túc chế độ kế toán quản trị để thường xuyên có được những thông tin trung thực, chính xác và đầy đủ về tình hình tài chính của doanh nghiệp phục vụ cho việc phân tích và ra những quyết định quản lý. Đồng thời, bên cạnh lực lượng cán bộ kế toán, mỗi doanh nghiệp cần có một giám đốc tài chính - người thực hiện chức năng quản trị tài chính của doanh nghiệp; thực hiện những biện pháp phòng ngừa rủi ro trong tài chính doanh nghiệp.

Nhà nước - Không thể đứng ngoài cuộc
Các rủi ro trong tài chính doanh nghiệp thường gắn liền với hiện tượng lạm phát trong nền kinh tế. Lạm phát xảy ra do rất nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là những nguyên nhân khách quan từ thị trường thế giới, từ việc điều hành kinh tế vĩ mô của Nhà nước. Hơn nữa, các doanh nghiệp là những tế bào của nền kinh tế quốc dân, là nơi tạo ra của cải vật chất, là lực lượng chủ yếu trong việc đóng góp vào ngân sách nhà nước. Do đó, khi lạm phát xảy ra, các doanh nghiệp phải đối mặt với tất cả các rủi ro về tài chính thì nhà nước không thể đứng ngoài cuộc.

Có một số ý kiến cho rằng, lạm phát lại là một thời cơ để thị trường thanh lọc và loại trừ các doanh nghiệp yếu; để các doanh nghiệp tiến hành cải tổ và phát triển bền vững hơn. Điều đó không hoàn toàn sai. Song, cũng không nên quá nhấn mạnh ý nghĩa của điều đó rồi phó mặc cho các doanh nghiệp “lặn, ngụp” trong vô vàn khó khăn do lạm phát. Lạm phát là một căn bệnh của nền kinh tế. Không ai nhờ bệnh dịch để thanh lọc cuộc sống con người. Vì vậy Nhà nước - người có quyền thu thuế và có chức năng quản lý nền kinh tế quốc dân - cần có những biện pháp cấp bách và hữu hiệu để giúp các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, chống đỡ được với những rủi ro về tài chính do lạm phát.


( Nguồn: http://doanhnhan360.com)


Một số vấn đề lớn của Quản trị tài chính

Một số vấn đề lớn của Quản trị tài chính

Tài chính là công việc sáng tạo và lý thú, tuy nhiên để trở thành chuyên viên giỏi sẽ khó hơn nhiều so với công việc kế toán. Thật vậy, với chuyên viên kế toán chỉ cần có kiến thức kế toán nhất định, đức tính cẩn trọng và làm việc vài năm tích lũy kinh nghiệm là đạt yêu cầu. Trong khi nhiều chuyên viên tốt nghiệp đại học ngành tài chính, công tác nhiều năm vẫn không đáp ứng yêu cầu công việc. Bởi vì để trở thành một chuyên viên tài chính thực sự, không chỉ nắm kỹ thuật và có kinh nghiệm; mà cần có khả năng am tường hoạt động kinh doanh của công ty trong bối cảnh nền kinh tế đa dạng. Từ đó dẩn đến khả năng diển dịch và dự đoán được tình hình và xu thế kinh doanh dưới dạng đồng vốn, để quản trị đồng vốn đạt hiệu quả cao cho hoạt động kinh doanh. Khả năng này không chỉ bằng tích lũy kinh nghiệm trong công tác, mà cần có kỹ năng thu thập chọn lọc thông tin, phân tích và đưa ra các giải pháp hợp lý nhất.

kienthuctaichinh.com xin được phép đăng lại bài của ThS. Đinh Thế HIển. Đây là phần trao đổi với các học viên sau khi trải qua khóa học Phân tích Tài chính Đầu tư cao cấp

Phải chăng có một số tố chất bắt buộc để chọn theo ngành này, Không phải siêng năng mà là kiên trì; Không phải cẩn thận mà là tỉnh táo; Không phải chuẩn mực mà là tưởng tượng táo bạo; Không phải là sự tính toán tỉ mỉ chính xác mà là khả năng khái quát hóa với sự làm chủ sai số và xác suất. Đó có phải là sự kết hợp giữa tính lãng mạm của người nghệ sỹ, tinh thần khai phá của người thám hiểm và tính cần cù của nhà nông luôn tin vào mùa vụ bội thu bằng lao động gieo trồng hôm nay. Xin nhường cho các bạn cảm nghiệm thêm.

Dưới đây là một số cảm nghiệm về quản trị tài chính để chia sẽ cùng bạn đọc, với niềm tin sẽ giúp các bạn tiếp cận và vận dụng tốt hơn những kiến thức đã tiếp cận trong khóa học:

1. TẤT CẢ CÁC BÀI TOÁN TÀI CHÍNH PHỨC TẠP ĐỀU CÓ THỂ QUY VỀ BÀI TOÁN CƠ BẢN VỚI MỘT PHÉP TOÁN TRỪ

Những chuyên gia giỏi, có lẽ phân tích vấn đề với phép toán đơn giản hơn nhiều so với chúng ta hình dung ?

Trong quá trình quản trị tài chính, chúng ta lần lượt tiếp cận nhiều bài toán phân tích phức tạp; từ suất sinh lời của vốn kinh doanh, điểm hòa vốn, giá trị cổ phiếu, hiệu quả đầu tư … đa dạng đến mức chúng ta có thể lạc vào mê trận của thuật ngữ và kỹ thuật, tưởng như mỗi lãnh vực là một vùng trời riêng biệt. Nhưng nếu đứng lùi ra xa và nhìn bao quát thì sự việc có thể diển dịch đơn giản, quy về một công thức là Doanh thu trừ chi phí hoặc nguồn thu trừ vốn đầu tư, kết quả của phép toán trừ này nếu dương thì có lợi nhuận (hiệu quả). Đọc đến đây nhiều bạn sẽ không đồng ý vì ….

Tuy nhiên chúng tôi muốn nhấn mạnh đến vẻ đẹp của công thức Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí hay Thu nhập ròng = Thực thu – thực chi, là cơ sở cho mọi công thức tài chính khác. Tôi được dịp tham dự một cuộc họp quyết định phương án đầu tư một chung cư cao cấp tại Q.7, diện tích khu đất là 7.500m2. Sau khi hỏi một vài câu về vị trí, Ong TGĐ (một nhà đầu tư nổi tiếng tại Tp.HCM) ra quyết định giá mua trong khoản 52 – 54 tỷ là mua được, và dự kiến lãi khoảng 25%, và sau đó tôi còn được thấy một số quyết định tương tự cho những dự án kinh doanh khác. Lúc đó tôi khá ngạc nhiên, nhưng khi tôi tính toán cụ thể thì kết quả là tương đương; sau này được dịp trao đổi tôi mới thấy khả năng sử dụng phép tính quy giản tuyệt vời của ông. Từ nhiều cách thức phân tích tương tự của chính tôi và một số nhà quản trị nêu trên, tôi nhớ đến nhà vật lý thực nghiệm nổi tiếng Fermi, trong quá trình tìm những nghiệm cho phương trình tạo bom nguyên tử, ông đã làm các chuyên gia điện toán ngạc nhiên khi những phép toán đơn giản của ông có kết quả gần như máy điện toán đã giải.

Trình bày những điều này tôi không hề muốn làm giảm giá trị các phép toán tài chính phức tạp là nội dung chính đào tạo trong khóa học này. Tôi muốn nhấn mạnh một ý quan trọng, "để trở thành một nhà quản trị tài chính thực thụ, các bạn cần lĩnh hội được vẽ đẹp chân phương của công thức đơn giản trên sau khi đã xuyên qua những kỹ thuật chuyên sâu của tài chính". Điều này đã được Kim Dung thể hiện tuyệt vời trong đoạn mô tả Trương Tam Phong dạy Thái cực quyền cho Trương Vô Kỵ, và thường khái quát trình độ vận dụng võ học của các đại cao thủ, đó là "vô chiêu thắng hữu chiêu"
Một liên tưởng khác, trong tiến trình học hỏi nghiên cứu, chúng ta dể đồng ý với câu ngạn ngử phương tây "chúng ta biết ngày càng nhiều trước sự chưa biết, ngày càng ít đi, cho đến khi không sự việc gì chúng ta không biết". Tuy nhiên John Bogle John Bogle là nhà đầu tư hàng đầu của Mỹ, đã đưa ra phương pháp đầu tư chỉ số trong chứng khoán, áp dụng cho Quỹ đầu tư hàng đầu Vanguard Investment group do ông sáng lập. Phương pháp này đã mang lại thành công vượt bực đưa quỹ tương trợ Vanguard thành quỹ lớn thứ 2 thế giới với vốn đầu tư lên đến 250 tỷ USD chỉ trong một thập niên. lại nói rằng "chúng ta biết ngày càng ít trước sự việc chưa biết ngày càng nhiều, cho đến khi chúng ta không biết gì hết về mọi sự việc". Có điểm tương đồng nào không giữa nhận định của nhà tài chính nổi tiếng này với “vô chiêu” của Kim Dung và cao thâm hơn nữa là "vô vi" của Lão Tử.

Trở về với công việc phân tích tài chính, trong khi nhiều người cứ mãi mê bới tìm những kỹ thuật, những công thức để cố gắng áp thực tế vào một khuôn mẩu có sẳn nào đó (như tầm chương trích cú trong nho học), thì các chuyên gia, những người đã đạt nguyên lý đơn giản của tài chính “thu nhập bằng thực thu trừ thực chi”, có lẻ sẽ phân tích vấn đề với phép toán đơn giản hơn rất nhiều so với chúng ta hình dung ?

2. KHÔNG BAO GIỜ THU THẬP ĐỦ THÔNG TIN CẦN THIẾT. ĐỂ GIẢI CÁC BÀI TOÁN TÀI CHÍNH CẦN CÓ KHẢ NĂNG XÂY DỰNG ĐƯỢC MÔ HÌNH TÀI CHÍNH

Một bài toán tài chính có thể phân làm ba giai đoạn xử lý. Giai đoạn 1 là xác định các yêu cầu và tập hợp các dữ liệu cần thiết; giai đoạn kế tiếp là sử dụng các phép toán thích hợp (xây dựng mô hình tài chính) để tính ra kết quả; cuối cùng là phân tích các kết quả để đưa ra nhận định đánh giá và chọn lựa phương thức thực thi.
Trong đa số trường hợp trong giai đoạn 1 chúng ta không bao giờ thu thập đầy đủ thông tin cần thiết cũng như mức độ tin cậy chắc chắn, có thể do khách quan (các thông tin dự báo, các thông tin mà người phân tích không thể tiếp cận) hoặc do chủ quan (người phân tích không có đủ thời gian hoặc chi phí để thu thập).

Sự thiếu hụt dữ liệu này dẫn đến trong giai đoạn tính toán, chúng ta sẽ gặp khó khăn không biết cách giải quyết bài toán do không tìm thấy một mô hình chuẩn. Điều này thường dẫn đến hai khả năng, hoặc cho rằng không thể giải bài toán, trường hợp ngược lại nếu có người giải bài toán thì lại tỏ ra nghi ngờ tính chính xác vì không đúng với sách vở. Vấn đề chính là chổ chúng ta quá thụ động với mô hình được trình bày trong các sách lý thuyết, mà quên rằng những mô hình đó được khái quát hóa từ vô vàn mô hình thực tế. Do vậy khi áp dụng vào một bài toán thực tế, chúng ta phải có khả năng chuyển mô hình khái quát trong lý thuyết thành mô hình ứng dụng cụ thể
Cốt lõi trong việc xây dựng một mô hình tài chính phù hợp với một trường hợp cụ thể, thứ nhất là chúng ta phải hiểu được bản chất kinh tế của bài toán, thí dụ việc phân tích biến phí_định phí của sản xuất may mặc khác với khu Resort nghỉ dưỡng. Điểm thứ hai là chúng ta phải chấp nhận sai số khi thiếu thông tin Điều này được minh họa tuyệt vời trong các bài toán dành cho ứng viên của MicroSoft, như câu hỏi yêu cầu ứng viên hãy cho biết trong nước Mỹ có bao nhiêu trạm xăng., khi đó chúng ta sẽ chọn phép giải có sai số chấp nhận được. Chúng ta hãy nhớ lại bài toán tính diện tích, nếu miếng đất có hình chử nhật thì chúng ta dể dàng áp dụng công thức. Nhưng nếu có hình phức tạp (ao hồ, dãy đất ven biển) mà công thể tìm ra công thức tính diện tích chuẩn nào, khi đó chúng ta có thể áp dụng phép tích tích phân của Newton với những sai số cho phép. Như vậy đứng trước một bài toán tài chính, chúng ta cần phải chọn lựa và điều chỉnh mô hình tài chính để phù hợp với yêu cầu và sai số cho phép, điều này đòi hỏi tính sáng tạo của chúng ta.

3. TRONG QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH KHÔNG CÓ MỘT LỜI GIẢI DUY NHẤT, mà lời giải được chọn lựa từ không gian giải pháp với sự cân nhắc giữa mức thành công đem lại và xác suất thất bại.

Trong kinh doanh, rất nhiều quyết định trái ngược nhau cùng dẫn đến thành công. Tập trung vào một ít sản phẩm như Coca cola (KO) hay đa dạng như J.Son & J.Son; đầu tư chứng khoán theo chỉ số của John Bogle hay theo giá trị như Maro Gabelli….điều đấy cho thấy có nhiều phương thức kinh doanh khác nhau cùng đạt được hiệu quả cao. Các giải pháp tài chính là sự hoạch định các hoạt động kinh doanh dưới dạng đồng vốn, do vậy cũng sẽ có rất nhiều giải pháp khác nhau. Khi triển khai các giải pháp kinh doanh chúng ta sẽ có nhiều chọn lựa (công suất lớn hay vừa phải, thiết bị tự động hay bán tự động, đầu tư toàn bộ hay có kết hợp thuê ngoài …), mỗi chọn lựa lại có nhiều khả năng khác nhau, thí dụ chọn công suất lớn có khả năng khai thác từ 50% - 80% công suất, tổ hợp các điều này chúng ta có nhiều giải pháp khác nhau mà chúng ta không chắc rằng giải pháp nào cho kết quả tốt nhất. Điều này làm cho bước nhận định và chọn lựa phương thức thực thi sẽ rất khó khăn.

Vấn đề chính là ở chổ chúng ta cần chọn lựa giải pháp thích hợp nhất với mục đích và điều kiện của chúng ta, thí dụ nếu chúng ta đang gặp khó khăn về vốn thì giải pháp ít đòi hỏi chi phí đầu tư sẽ được ưu tiên chọn lựa. Điều cần nhớ là bao giờ chúng ta cũng có một số giải pháp để chọn lựa, mỗi giải pháp sẽ đòi hỏi một số điều kiện để đảm bảo khả năng thành công. Chính vì thực tiển này đôi khi người ta nhận định quản trị tài chính là một nghệ thuật; tuy nhiên chúng tôi muốn nói rằng đó là nghệ thuật của các con số và định luật kinh tế, mà nếu không tuân thủ thì chắc chắn sẽ bị trả giá.

Ngạn ngữ có câu “mọi con đường đền dẫn tới Roma”, các chuyên gia tài chính sẽ nói thêm “ nhưng trong số đó sẽ có những con đường tốt hơn, và chúng ta sẽ chọn ra một con đường có xác suất tốt nhất trong điều kiện của chúng ta”

4. PHƯƠNG PHÁP DÒNG TIỀN CHIẾT KHẤU, KỸ THUẬT QUAN TRỌNG GIẢI BÀI TOÁN TÀI CHÍNH.

Nếu chọn ra một nguyên lý quan trọng nhất của Tài chính hiện đại, thì đó là nguyên lý giá trị đồng tiền biến đổi theo thời gian; có nghĩa là giá trị đồng tiền hôm nay khác với giá trị đồng tiền năm sau và năm sau nửa. Theo nguyên lý này, chúng ta không thể so sánh trực tiếp các số tiền khác thời điểm. Thí dụ nếu chúng ta bỏ ra 1 tỷ đồng mua một miếng đất và sau 3 năm chúng ta bán được 1,4 tỷ thì chúng ta có lãi hay không, phép toán trừ có kết quả lãi 400 triệu không được chấp nhận. Nhiều chuyện kinh doanh khác phức tạp hơn, thí dụ chúng ta đầu tư 100 tỷ đồng xây dựng nhà máy chế biến thủy sản, và dự kiến nguồn thu dần dần trong 10 năm (là thời gian sử dụng thiết bị đã đầu tư) cộng lại là 180 tỷ thì có nên đầu tư hay không? Rồi chuyện bỏ ra một số tiền lớn để mua các cổ phiếu của một công ty còn chưa có tiếng tăm để 2 năm sau khi cổ phiếu được giá sẽ bán, khi đó giá bán CP tối thiểu là bao nhiêu để chúng ta có lãi 20%/năm….

Để giải quyết các vấn đề này chúng ta sử dụng kỹ thuật chiết khấu dòng tiền, quy số tiền các năm tương lai về năm hiện tại để có thể so sánh trực tiếp (khi đó mới sử dụng công thức thu nhập = thực thu – thực chi). Như vậy đây là phương pháp quan trọng bật nhất của tài chính, được áp dụng để giải các bài toán tài chính đầu tư phức tạp như hiệu quả dự án đầu tư, định giá CP và bất động sản, định giá doanh nghiệp…

Đối với chuyên viên phân tích tài chính một khi đã nắm vững phương pháp này kết hợp với mô hình tài chính thì tất cả bài toán tài chính, dù phức tạp đến đầu cũng có thể giải quyết, như là một đại cao thủ đã đạt được nguyên lý võ học, có thể biến hóa quyền pháp tùy cơ. Đặt biệt với công cụ Excel, đã giải phóng sự nặng nhọc trong các phép tính; thì việc giải bài toán tài chính bằng mô hình và phương pháp chiết khấu dòng tiền trở thành một nghệ thuật thú vị, có thể trả lời nhiều câu hỏi một cách nhanh chóng.

5. RỦI RO VÀ THU NHẬP, TRIẾT LÝ TẠO RA SỰ PHONG PHÚ TRONG SẢN PHẨM TÀI CHÍNH.

Bước vào thế giới tài chính chúng ta thấy có quá nhiều luật chơi, các sản phẩm phong phú và đa dạng. Xét về huy động vốn của doanh nghiệp, chúng ta có cổ phiếu ưu đãi, CP thường, vay NH, trái phiếu, trái phiếu lãi suất biến đổi, trái phiếu chuyển đổi…Trong lĩnh vực các tổ chức cấp vốn chúng ta có Ngân hàng, công ty tài chính, thuê mua tài chính, Quỹ đầu tư tương hỗ, Quỹ đầu tư mạo hiểm…còn các công cụ kinh doanh tiền tệ thì hợp đồng giao sau, hợp đồng quyền chọn…

Khi vào một Casino bạn sẽ hoa mắt vì quá nhiều trò chơi, từ chơi tài_xỉu với khả năng ăn thua tương đương gần 1 - 1 cho đến khó thắng hơn khi chơi quay Rulex bỏ 1 đồng trúng sẽ được 70 đồng nhưng khả năng thắng chỉ có 1%. Rỏ ràng bạn có thể chọn trò chơi tuỳ ý nhưng không có trò chơi nào sẽ có lợi cho bạn hơn trò chơi khác, mà chỉ là phần thưởng cao thì khả năng thắng thấp hoặc ngược lại.

Về mặt nào đó, tiền thắng và khả năng mất trong các trò chơi của Casino cũng tương tự các công cụ và sản phẩm tài chính. Nhà quản trị tài chính luôn phân vân trong việc huy động vốn, vay ngân hàng hay phát hành thêm CP; nếu vay sẽ hứa hẹn mang lại hiệu quả cao hơn cho các cổ đông hiện tại nhưng cũng tạo ra áp lực rủi ro trả nợ. Trường hợp khác, để đảm bảo khả năng sinh lợi an toàn của một hợp đồng xuất khẩu lớn, CFO có thể sử dụng hợp đồng bảo hiểm tỷ giá với chi phí chấp nhận được. Tuy nhiên nếu công cuộc kinh doanh nào cũng sử dụng các nghiệp vụ bảo hiểm rủi ro thì khả năng thu lợi sẽ không còn nữa.

Trong quá trình phát triển của thị trường tài chính đã tạo ra các loại hình tài chính và dịch vụ tài chính phong phú dựa trên mối quan hệ giữa rủi ro và thu nhập; một nhà quản trị tài chính có kinh nghiệm sẽ chọn lựa những công cụ thích hợp trong quá trình quản trị và phát triển đồng vốn của mình. Nhưng nhất quyết không bao giờ được liều lĩnh đưa doanh nghiệp vào cuộc chơi đỏ đen đầy rủi ro.

6. QUẢN TRỊ RỦI RO LÀ NHIỆM VỤ QUAN TRỌNG CỦA QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH

Ngày nay nếu có nhiệm vụ cốt yếu nào mà nhà quản trị tài chính cần phải gánh vác thì đó là nhiệm vụ quản trị rủi ro. Trong nền kinh tế thị trường phát triển và hội nhập, các doanh nghiệp phải chấp nhận sự cạnh tranh, lĩnh vực nào hứa hẹn sinh lợi nhất thường gặp phải cạnh tranh mạnh nhất hoặc là lĩnh vực có khả năng thất bạo cao.

Các chuyên gia kinh tế hàng đầu của thế giới cùng chung quan điểm “rủi ro là thuộc tính của nền kinh tế trong kỹ nguyên mới”. Trong tác phẩm Rethinking the Future Tác phẩm tập hợp những bài phân tích về xu thế của nền kinh tế trong sự tác động của làn sóng thứ 3 về công nghệ do Rowan biên soạn được NXB Trẻ xuất bản dưới tựa đề Tư duy lại tương lai., Alvin và Heidi Toffler đã trình bày khái quát “ khi phương thức tạo ra của cải của làn sóng thứ ba được triển khai rộng rãi, được đánh dấu bởi sự xáo trộn và xung đột xã hội, thì nó sẽ tạo ra một tình trạng không thể tiên đoán trước ở mức độ cao và những điều kiện phi tuyến tính”

Xét về vĩ mô đó là chu kỳ kinh tế các nước phát triển ngày càng ngắn hơn, về vi mô chúng ta đã chứng kiến nhiều đại gia tưởng rằng bất khả xâm phạm đã có những thời điểm suy thoái nặng nề như IBM, For, Nisan... Chúng ta cũng thấy sự suy thoái rồi hồi sinh đầy thuyết phục của Apble, Samsung…Trong thực tiển tại các nước phát triển, các công ty luôn đối đầu với những bất trắc do môi trường kinh tế tác động, dù là công ty đa quốc gia hay tầm địa phương. Thực tiển này đặt ra cho nhà quản trị tài chính công ty cần chuẩn bị một nguồn lực đủ mạnh để vượt qua những đợt suy thoái nghiêm trọng giúp cho công cuộc kinh doanh không bị sụp đổ một cách đáng tiếc. Trong đợt kiện chống bán phá giá thủy sản vừa qua của Mỹ, những xí nghiệp chế biến yếu lực phải phá sản, trong khi một số công ty có nguồn lực và năng động đã trụ được và phát triển mạnh khi VN gia nhập WTO là một minh họa.

Hãy luôn nhớ, khi gặp khó khăn nghiêm trọng thì mọi chiến lược khắc phục đều cần tới nguồn lực tài chính, và nhiều công ty đã bị phá sản bởi vì không có sự chuẩn bị nguồn lực tài chính cần thiết, đã quá mãi mê vay mượn phát triển đầu tư mà thiếu chiến lược tài chính tốt để quản trị rủi ro.

7. NHÀ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH LUÔN NHỚ QUY LUẬT “ LƯỢNG ĐỔI CHẤT ĐỔI”

Có một câu nói kinh điển mà các giảng viên khoa quản trị kinh doanh hay giới thiệu cho các sinh viên, đó là “ chi 1 triệu USD mà hợp lý cũng sẳn sàng, nhưng chi 1 USD không đúng sẽ dứt khoát không chi”. Chúng ta không cần bàn luận thêm câu phát biểu đầy hàm ý này. Nhưng tôi muốn nói với các chuyên viên tài chính trẻ một câu khác “chi 1 USD thì không phải đắn đo gì nhiều, nhưng chi 1 triệu USD thì cần đặt lên đặt xuống nhiều lần trước khi quyết định”.

Tôi đã thấy một ông giám đốc ra những quy định chi tiết về việc in 2 mặt của tờ giấy mà không phân tích việc này tiết kiệm được bao nhiêu, trong khi dự án đầu tư hàng chục tỷ, nhưng lại không muốn chi vài chục triệu cho công tác điều tra thị trường, nghiên cứu công nghệ thiết bị. Tôi cũng thấy một công ty rất vững mạnh có thương hiệu và sản phẩm bán chạy; nhưng đang đứng trên bờ vực do đã đầu tư một dự án mới với vốn đầu tư, chủ yếu là vốn vay lớn hơn nhiều quy mô vốn đang kinh doanh hiện tại; với quy mô đó khi dự án gặp khó khăn thì không cách gì sử dụng nguồn lực hiện có để bù đắp.

Lượng đổi chất đổi là một quy luật triết học đặc biệt quan trọng mà nhà quản trị tài chính cần ghi nhớ. Khi công ty tăng quy mô và vốn rất lớn thì phương thức cổ phần đại chúng sẽ tốt hơn hình thức TNHH; một sự gia tăng vay nợ vượt tỷ lệ an toàn, một khách hàng có mức dư nợ tăng dần,… đều là những cảnh báo cần phải có phương thức tác động thích hợp, nếu không sẽ đưa tình hình tài chính công ty vào chổ nguy hiểm. Vận dụng điều chỉnh quản trị tài chính theo từng giai đoạn tăng trưởng của công ty, chính là giúp cho tình hình tài chính công ty luôn vững mạnh

8. CHỦ ĐỘNG _ SÁNG TẠO LÀ PHẨM CHẤT QUAN TRỌNG NHẤT CỦA NHÀ TÀI CHÍNH

Sau cùng tôi muốn kể cho các bạn một truyền thuyết thời Đông Châu liệt quốc. Tô Tần sau khi học thành tài được Quỹ Cốc tiên sinh tặng cho một quyển bí quyết về nghệ thuật du thuyết. Tô Tần đọc làu thông và đi du thuyết, nhưng suốt 3 năm tiêu tốn tiền của gia đình vẩn thất bại ôn hận trở về. Sau đó Tô Tần đọc lại bí quyết và mới phát hiện trang cuối có ghi lời thày “bao giờ con quyên những điều trong đây thì con đã lĩnh hội xong bí quyết và có thể xuất sơn”. Tô Tần quyết định suất gia lần nửa và ông đã trở thành tướng quốc của 6 nước chống với nhà Tần. Cũng có thể sau lần đọc lại Tô Tần đã kết hợp với những kinh nghiệm thực tế của mình nên nhìn vấn đề tốt hơn, cũng có thể ông đã lĩnh hội được sự sinh động của kiến thức mà chính mình phải tạo ra.

Câu chuyện này có nhiều điểm tương đồng với câu chuyệu “ vô chiêu” ở trên, nhưng nó không chỉ là chuyện trà dư tửu hậu. Các Trường đại học của Mỹ hiện nay không còn hình thức thày giảng trò ghi, lời thầy là chân lý; mà đã chuyển sang hình thức thày là người giới thiệu, gợi ý; trò là chủ thể nghiên cứu, học hỏi – tranh luận – sáng tạo. Như vậy “ học là quá trình để quên ” của các câu chuyện trên đây có ngụ ý “ học là quá trình để biến cái được thấy thành cái của mình, với những ý tưởng mới đầy sáng tạo trong các thực tiển mình đang gặp phải”.

(ThS. Đinh Thế HIển)


Nguồn: kienthuctaichinh.com sưu tầm và tổng hợp

Phần mềm học từ vựng hiệu quả

Phần mềm học từ vựng hiệu quả

Vocaboly là một phần mềm dùng để hoc từ vựng tiếng Anh dùng trong các kỳ thi quốc tế như TOEFL, GMAT, GRE hay SAT. Phần mềm này cũng hữu dụng cho các bạn muốn tăng vốn từ vựng của mình.

Đây là phần mềm miễn phí.

Các tính năng cơ bản

Phần mềm này giúp các bạn học khoảng 12 000 từ trong 5 phần: Từ vựng trong chương trình VOA Special English, TOEFL, GMAT, SAT và GRE. Mỗi mục từ có phần nghĩa (bằng tiếng Anh) phiện âm quốc tế và phát âm.

Giao diện dễ sử dụng. Hỗ trợ nhiều người dùng và theo dõi tiến trình học của từng người học. Hoạt động học đa dạng phong phú và thú vị. Có bài kiểm tra sau khi bạn học từ. Đặc biệt là phần trò chơi để học từ vựng vô cùnh thú vị.

(Download)

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

20-10







May 21, 2009

OMO - bước chuyển mình trong định vị thương hiệu

OMO - bước chuyển mình trong định vị thương hiệu

Gần đây chúng ta liên tục chứng kiến chương trình PR và quảng cáo rầm rộ của Omo với chủ đề hướng đến xã hội. Phải chăng ông bột giặt này đã thay đổi quan điểm định vị?

Chiến thuật “lấy lòng” khách hàng của OMO

Nhớ những ngày đầu tiên xâm nhập thị trường Việt Nam, Omo mở đầu bằng những mẩu quảng cáo nêu bật tính năng giặt tẩy vượt trội của mình. TVC đặc trưng nhất là phỏng vấn người tiêu dùng về những trải nghiệm của họ khi dùng bột giặt Omo. Hình như Unilever rất kết mô típ này nên “tra tấn” khán giả trong một thời gian dài làm họ ớn tới tận cổ nhưng kể ra cũng khá “hiệu nghiệm”. Hầu hết người tiêu dùng đều nhớ nằm lòng nhãn hiệu Omo.

Khi nhãn hiệu Tide của kỳ phùng địch thủ P&G chính thức bước vào thị trường thì cuộc đua giành vị trí trong tâm trí người tiêu dùng bắt đầu đến hồi….gay cấn. Kết hợp với quảng bá trên truyền hình, báo chí…hai ông bột giặt cùng bước vào màn cạnh tranh.

Năm 2002, thị trường chứng kiến cuộc chiến khốc liệt về giá giữa OMO và Tide nhằm mục đích nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường. Khi giá giảm đến mức sàn, nhắm không gồng nổi nữa họ bèn rủ nhau tăng giá. Lúc này người tiêu dùng đã quen thuộc với thương hiệu Omo nên dù có tăng giá đôi chút họ vẫn sẵn sàng móc hầu bao ra trả, Omo bảo vệ được thị phần.

Omo lúc này tự định vị mình là trắng sạch với slogan: Omo – chuyên gia giặt tẩy vết bẩn. Chiến lược định vị này trất thành công vì khi nghĩ đến Omo. người ta nghĩ ngay đến đặc tính “trắng sạch”.

Ngoài chiến lược quảng cáo “dội bom” trên truyền hình, báo chí, Omo còn kết hợp với hàng loạt hoạt động marketing khác để quảng bá thương hiệu. Năm 2002 đánh dấu sự ra đời của một chương trình PR thành công của Omo, được dân trong nghề đánh giá cao là chương trình “Omo áo trắng ngời sáng tương lai”. Chương trình cũ xì này vẫn được duy trì đế tận bây giờ vì nó vẫn tiếp tục đem lại hiệu quả marketing lớn.

Từ cuối năm 2005 chúng ta được chứng kiến một bước chuyển mình mới của Omo với chiến lược marketing hướng về cộng đồng. OMO thực sự định vị trên một tầm cao mới. Bà Nguyễn Thị Mai, brand manager của Omo cho chúng ta biết: “Omo đựơc định vị dựa trên việc khai thác sự trải nghiệm và phát triển của trẻ em. Tất cả mọi hoạt động của Omo đều hướng đến mục tiêu định vị này”.

Thật vậy, Omo đã qua thời quảng bá thương hiệu với tính năng của sản phẩm, họ đã tạo được “brand awareness” tức sự nhận biết thương hiệu đối với khách hàng. Và đây là lúc họ bước vào thời kỳ “cao cấp” hơn: củng cố thương hiệu và xây dựng tình cảm của khách hàng đối với thương hiệu.

Hàng loạt chương trình ra đời đều hướng đến mục tiêu nhất quán này: tổ chức các chương trình hướng về cộng đồng như “ngày hội những chiếc túi tài năng”, “OMO áo trắng ngời sáng tương lai, ngày hội “Triệu tấm lòng vàng”, “Tết làm điều phúc sung túc cả năm”, khuyến mãi “Vạn tim vàng cho triệu tấm lòng vàng”, chương trình sơn trường học tại 6 tỉnh vùng sâu vùng xa, hỗ trợ 3000 sinh viên về quê ăn tết… Các chương trình đã thực sự mang lại lợi ích thiết thực cho xã hội và Omo nhanh chóng “ghi điểm” trong mắt với khách hàng.

PR vào cuộc

Chúng ta có thể thấy thập thò bóng dáng của PR trong tất cả các hoạt động gần đây của Omo. Có thể thấy PR thường mở đầu bằng việc tạo “xu hướng dư luận” . Điển hình là chương trình “Học hỏi điều hay, ngại gì vết bẩn”.

Các chương trình này có được thành công tốt đẹp như vậy không thể không kể đến vai trò quan trọng của hoạt động PR. Không chỉ có một bộ phận PR của Unilever mà đằng sau đó là một lực lượng hùng hậu các công ty PR sẵn sàng tiếp ứng. Mỗi chương trình ra đời là một lần thu hút sự quan tâm của mọi người.

Với ý tưởng là mọi người ngày nay do sợ dơ nên sẽ không để cho con cái họ cho những trò năng động để học hỏi và phát triển, Omo gửi đi thông điệp: “Học hỏi điều hay, ngại gì vết bẩn”, khơi dậy ý thức trong các ông bố bà mẹ về việc để cho con cái mình tự do nghịch dơ để học hỏi. Họ tìm cách làm cho người dân quan tâm đến vấn đề này và cùng đem ra bàn luận trên báo (thực chất vấn đề được đưa ra ở mục ý kiến đọc giả lại là những bài viết của dân PR dưới những tên người gởi khác nhau). Khi dư luận nóng lên với đề tài : “Sẽ cho con cái làm gì trong mùa hè này- vui chơi hay học” thì Omo tung ra event “Ngày hội những chiếc túi tài năng” tại công viên Lê Văn Tám. Thế là chương trình đã thành công tốt đẹp do họ đã biết cách tạo xu hướng bình luận của người dân để truyền đi thông điệp “bạn không còn sợ con cái nghịch dơ vì đã có Omo tẩy bay mọi vết bẩn rồi” .Tiếp đó là những chương trình phỏng vấn trực tuyến với các chuyên gia, các bài viết về để tài nuôi dưỡng lòng nhân ái, cảm thông chia sẻ ở trẻ nhỏ…nhưng mà người trong nghề đọc vào thì “đánh hơi” được ngay là có “mùi” PR ở đó rồi. Mục tiêu của việc tạo dư luận này là để hỗ trợ cho chương trình “OMO áo trắng- ngời sáng tương lai” đang được phát động rầm rộ cùng thời điểm. Sau mỗi sự kiện được Omo tổ chức đều được giới truyền thông nô nức rủ nhau đưa tin chứng tỏ quan hệ truyền thông của Unilever vô cùng hiệu quả.

Omo nhanh chóng được xếp hạng là thương hiệu nổi tiếng nhất trong nghành hóa mỹ phẩm.

“Lịch sử” đã sang trang?

Có thể nói Omo đã thành công khi tự định vị trên một tầm mới, hay nói vui là từ thời kỳ thô sơ đã bước vào thời kỳ hiện đại. Trong khi đó, đối thủ của họ là Tide vẫn còn ở tầm định vị về năng lực tẩy trắng, tức giới thiệu tính năng sản phẩm.

Chúng ta có thể thấy rõ chiến lược “bánh mì sandwich” của Unilever vẫn tiếp tục được duy trì với hai lát bánh mì là Omo và Viso, còn Tide là miếng thịt nguội nằm ở giữa. Khi Omo còn định vị là trắng sạch thì Viso “được hiểu như” một loại bột giặt rẻ tiền dành cho người tiêu dùng bình dân. Còn khi Omo đã tiến đến một tầm định vị cao hơn như bây giờ thì ta dễ dàng nhận thấy Viso cũng được nâng cấp với dòng sản phẩm “Viso trắng sáng”, đặc tính được định vị là “trắng sáng” nhằm “cắn” vào thị phần của Tide. Bên cạnh đó vẫn tiếp tục duy trì dòng sản phẩm cấp thấp Viso chanh. Trong khi đó đối thủ Tide của họ tỏ ra khá thận trọng và bảo thủ (mà hình như đây là đặc tính của P&G thì phải) trước chiến lược marketing linh hoạt của hai nhãn hàng kia. Bằng chứng là họ vẫn ung dung rung đùi thưởng thức TVC theo mô típ cũ rích”ngạc nhiên chưa?”.

Tuy vậy, chiến lược nâng cấp hình ảnh của Viso có thể không đe doạ lắm đến Tide theo như tính toán của Unilever, nếu không được sử dụng cẩn thận còn có nguy cơ sẽ đi chệch mục tiêu này có phát huy hiệu quả như họ mong muốn. Thay vì ép sân Tide, Viso lại lấn vào thị phần của OMO. Hơn nữa chất lượng của Viso liệu có thể đọ sức với Tide hay không, đó cũng là điều cần xem lại.

Song nói gì thì nói, cái gì cũng có ưu điểm và hạn chế của nó, “mở cửa ra đón gió vào thì ruồi muỗi cũng theo vào” là điều không tránh khỏi. Chúng ta hãy chờ đợi xem liệu chiến thuật “bánh mì sandwich” của họ có phát huy hiệu quả như họ mong muốn hay không. Nói thành công không thể không đề cập đến hạn chế. Bên

Bên cạnh những thắng lợi đạt được, dường như Omo cũng có một vài bước đi hơi bị …hụt chân. Tiêu biểu là event gần đây nhất của dòng “Omo tẩy an toàn” với việc giặt sạch chiếc áo ngắn tay khổng lồ trên sân vận động Quân khu 7. Đây là một chương trình hoành tráng rất tốt kém nhưng lại “được” dư luận đánh giá không cao mấy. Âu cũng là bài học cho Unilever và cho cả chúng ta, đó là phải cân nhắc thật kỹ yếu tố văn hoá khi tổ chức một hoạt động marketing, hãy nghĩ theo nếp nghĩ của người Việt.

Người Việt theo truyền thống của người Á Đông đa số không thích những gì giật gân phi thực tế nên việc may chiếc áo đó là một sự xa xỉ không cần thiết. Rất may Unilever đã “chữa cháy” kịp thời bằng việc cắt chiếc áo ra làm nhiều mảnh để may áo tặng trẻ em nghèo nên đã tự cứu mình một bàn thua trông thấy. Có lẽ chương trình này được tổ chức ở một nước phương Tây nào đó thì sẽ rất thành công nhưng ở Việt Nam khi vẫn còn tồn tại cách nhìn nhận, đánh giá khá chặt chẽ và bảo thủ trong dư luận thì rõ ràng việc tổ chức event này là một điều chưa hoàn toàn phù hợp.

Nhìn chung quãng đường định vị theo hướng mới của Omo vẫn chưa đủ dài song những gì họ làm được đáng để coi là thành công. Thành công trong việc mở cho mình một lối đi riêng trên thị trường Việt Nam, thành công trong việc nâng cao giá trị thương hiệu của một sản phẩm thuộc hàng tiêu dùng thiết yếu. Sau này rất có thể những đối thủ cạnh tranh sẽ theo bước chân định vị của họ, song Omo có lợi thế là người tiên phong trên thị trường, mà cái gì đầu tiên thường để lại ấn tượng lâu phai trong tâm trí khách hàng.

Theo Thằng Banhbeo. OMO sao lại thế!

Bạn đã biết gì về franchising (Phần 1)

Có thể bạn muốn tự xây dựng công việc kinh doanh của mình, bởi vì bạn muốn tự mình làm chủ? Nhưng bạn có nhất thiết phải bắt đầu từ vạch xuất phát không? Hay bạn nên mua lại công việc kinh doanh của những ông chủ khác, khi họ đang muốn sang nhượng lại cơ sở để nghỉ ngơi? Hoặc là, bạn nên mua một đơn vị kinh doanh theo hình thức nhượng quyền?
Bạn sẽ băn khoăn tự hỏi, bạn có còn là chủ không, khi mua một đơn vị nhượng quyền? Những người cùng kinh doanh theo hình thức nhượng quyền này sẽ là đồng minh hay trở thành đối thủ của bạn? Và bạn cần những kỹ năng đặc biệt nào để quản lý một cơ sở nhượng quyền?

Trong bài viết này, chúng tôi sẽ cung cấp cho bạn những thông tin chi tiết nhằm giúp bạn có khái niệm đầy đủ về vấn đề nhượng quyền kinh doanh, từ đó tự quyết xem liệu đây có phải là hình thức kinh doanh phù hợp với bạn không.

Nhượng quyền kinh doanh là gì?

Hãy thử tưởng tượng rằng bạn sắp mở cửa hàng ăn nhanh McDonald’s. Muốn làm được việc đó, bạn cần phải mua “quyền kinh doanh” của Công ty McDonald’s. Để có đủ tư cách của một chủ cơ sở nhượng quyền theo quy ước thông thường, bạn phải có 175 ngàn USD (đây không được là khoản tiền vay mượn). Nhưng toàn bộ chi phí cho việc mở cửa hàng như thuê mặt bằng, xây dựng, trang trí, mua sắm trang thiết bị … sẽ nằm đâu đó trong khoảng từ 430 ngàn đến 750 ngàn USD, và 40% trong số này phải do bạn tự đầu tư (bằng tiền của bản thân).

Bạn sẽ trả trực tiếp cho công ty McDonald’s số tiền 45 ngàn USD gọi là Phí đăng ký nhượng quyền ban đầu. Những chi phí khác sẽ được thanh toán cho các nhà cung cấp, vì thế đây là loại phí duy nhất bạn phải trả cho McDonald’s. Sau đó, bạn sẽ tham gia một khoá huấn luyện nghiêm ngặt kéo dài 9 tháng, nơi bạn được dạy về các phương pháp làm việc theo đúng phong cách đặc trưng của McDonald’s như: tiêu chuẩn chất lượng, cung cách phục vụ, giá trị hình ảnh thương hiệu, công thức và cách chế biến từng món trong thực đơn, cách thức quản lý, các kỹ năng kiểm kê, giám sát… Bạn buộc phải chấp nhận điều kiện chỉ được mở một cửa hàng McDonald’s tại một địa điểm nhất định, trong một khoảng thời gian nhất định, thường là 20 năm, đồng thời tuân thủ các nguyên tắc về bài trí cửa hàng, tuyển dụng nhân viên…và tất cả những yếu tố khác nữa, sao cho cửa hàng McDonald’s của bạn toát lên được “thần thái” của một McDonald’s thực sự.

Sau khi bạn kết thúc khoá huấn luyện và đã sẵn sàng bắt tay vào việc, Mc Donald’s sẽ giới thiệu cho bạn một địa điểm kinh doanh đã được lựa chọn từ trước. Mặt ngoài của toà nhà sẽ được hoàn thiện, nhưng bạn phải chú ý phần nội thất bên trong sao cho có thể sắp xếp một cách hợp lý các thiết bị nhà bếp, chỗ ngồi, cảnh quan trang trí ...Bạn sẽ nhận được sự hỗ trợ thường xuyên từ một nhân viên thuộc Bộ phận tư vấn của McDonald’s, người sẽ định kỳ ghé thăm cơ sở kinh doanh của bạn, cho bạn những lời khuyên hữu ích, cũng như hướng dẫn và giải thích mọi việc một cách chi tiết. Bạn sẽ trả cho McDonald’s khoản phí hàng tháng là 4% trích từ doanh thu bán hàng, và cộng thêm tiền thuê mặt bằng ít nhất cũng chiếm 8,5% nữa. Lợi nhuận từ cửa hàng của bạn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, từ vị trí tọa lạc và thói quen của cư dân trong khu vực, cho đến hiệu quả của việc kiểm soát chi phí, kể cả khả năng điều hành và tổ chức hoạt động kinh doanh của bạn.

Có thể bạn đang nghĩ rằng, nhượng quyền là trả cho ai đó một số tiền để được sở hữu tất cả chiến lược kinh doanh, chiến lược tiếp thị, chiến lược điều hành và luôn cả danh tiếng của họ. Điều đó quả thực hơi vượt quá bản chất của hình thức nhượng quyền: bạn thiết lập mối quan hệ với một “đại gia” danh tiếng, sử dụng hệ thống của họ và lợi dụng khả năng nhận biết thương hiệu nổi tiếng này trong tâm thức của người tiêu dùng, nhằm mục đích rút ngắn thời gian thu hồi vốn đầu tư của bạn. Khi hoạt động kinh doanh theo hình thức nhượng quyền, bạn đang khai thác thế mạnh của hệ thống quản lý cũng như thương hiệu đã được kiểm chứng và thử thách qua thời gian, vì thế, bạn buộc phải tuân thủ theo “luật chơi” của công ty bán quyền đó.

Vậy bạn có phải là chủ cơ sở kinh doanh của mình không? Ở một vài khía cạnh thì câu trả lời là không. Bạn vẫn phải báo cáo với một người nào đó, và thực hiện công việc theo những chỉ dẫn của họ. Về thực chất, bạn không làm chủ hoạt động kinh doanh đó, mà chỉ sở hữu số tài sản bạn đầu tư để tạo dựng cơ sở kinh doanh.

Những ưu điểm của hình thức kinh doanh nhượng quyền

Theo nghiên cứu và thống kê của Robert Gappa trên website Franchise UPDATE, chỉ tính riêng nước Mỹ đã có đến 2.500 hệ thống nhượng quyền, với hơn 534.000 điểm hoạt động trên toàn lãnh thổ, chiếm 3,2% tổng các cơ sở kinh doanh và 35% doanh thu bán lẻ và dịch vụ nước này.

Ưu điểm lớn nhất của nhượng quyền là giảm thiểu rủi ro khi đầu tư. Nguyên nhân là các cơ sở nhượng quyền được thành lập theo hình mẫu có sẵn và phát triển nhanh hơn, nhờ đó sinh lợi nhanh hơn. Một nguyên nhân khác nữa là do ở đây có phương pháp quản lý tốt hơn, đồng thời thương hiệu đã nổi tiếng và được người tiêu dùng tín nhiệm. Theo tài liệu Small Business Administration (SBA), hầu hết những doanh nghiệp nhỏ thất bại là do quản lý yếu kém. Trong bối cảnh này, phương án kinh doanh dựa trên hình thức nhượng quyền có lẽ khả thi hơn cả- thuê một cơ sở nhượng quyền về bản chất là thuê bí quyết quản trị của một doanh nghiệp đã thành công.

Bạn còn có thể dễ dàng thương lượng với nhà cung cấp, vì công ty nhượng quyền có thể mua và cung cấp vật tư cho toàn bộ hệ thống với số lượng lớn rồi chuyển phần chi phí tiết kiệm đó cho bạn và những đơn vị khác tương tự.

Việc được khách hàng nhận biết ngay cũng là một lợi thế lớn. Khách hàng thường chọn lựa cái họ đã biết chứ không phải cái họ chưa từng nghe đến. Hãy tưởng tượng, bạn đến một thị trấn xa lạ chưa từng một lần ghé thăm trước đó, và bạn trông thấy hai cửa hàng- một của Gà Rán Kentucky và cửa hàng kia mang tên Gà rán Billy Bob’s, bạn sẽ dừng lại ở cửa hàng nào? Khi biết Billy Bob’s là một quán bán gà rán của địa phương, có lẽ bạn sẽ không muốn chọn nó làm điểm dừng chân.

Về phía khách hàng, ưu điểm của một cơ sở nhượng quyền là cảm giác thoái mái, yên tâm với chất lượng sản phẩm mình đang sử dụng. Bạn biết rằng, chất lượng sản phẩm hay dịch vụ ở một địa điểm kinh doanh sẽ bị đem so sánh với cùng sản phẩm hay dịch vụ đó ở những điểm kinh doanh khác. Bạn biết những cơ sở nhượng quyền khác có lợi thế gì, và bạn cũng biết mình phải làm gì để tạo được ưu thế cho cơ sở của mình. Ở vị trí của một đơn vị nhận nhượng quyền tiềm năng, những câu hỏi đặt ra cho bạn là: bạn có cố gắng tìm kiếm cho mình một vẻ độc đáo riêng biệt? Hay đơn giản là bạn chỉ trông coi công việc kinh doanh, bất kể là công việc đó được sắp xếp theo luật lệ của ai?

Trước khi trả lời những câu hỏi trên, chúng ta cùng lướt qua thêm vài chi tiết về cách vận hành một đơn vị nhượng quyền.

Các quy định: phí phải nộp

Có 2 nhóm chính tham gia vào hình thức kinh doanh nhượng quyền, gồm có bên bán hay cho thuê (franchisor: cá nhân hoặc doanh nghiệp cho thuê quyền kinh doanh, bao gồm cả thương hiệu và hệ thống sản xuất, quản lý) và bên mua hay thuê (franchisee: người thuê lại quyền đó).



Quyền kinh doanh đó được bên bán (franchisor) bán cho bên mua (franchisee) để thu về một số tiền ban đầu, thường gọi là phí gia nhập hay Phí nhượng quyền (franchise fee). Số tiền này phải giao ngay sau khi hợp đồng được ký kết. Hợp đồng nhượng quyền (franchise agreement) này sẽ chi tiết hoá tất cả những điều khoản ràng buộc và nghĩa vụ của cả bên mua và bên bán, cũng như thời gian hợp đồng có hiệu lực (thường là vài năm). Hợp đồng này sẽ được ký lại khi hết hiệu lực.

Phí nhượng quyền ban đầu chỉ bao gồm quyền sử dụng tên và hệ thống sản xuất, điều hành, đôi khi bao gồm cả việc đào tạo theo chế độ, những thủ tục, tài liệu hướng dẫn, và một số chi tiết phụ trợ khác. Phí này không gồm những thứ như: tài sản cố định, bàn ghế, bất động sản…

Ngoài phí nhượng quyền, bên mua còn phải trả một loại phí khác gọi là Phí thành viên (royalty fees) hay những khoản thanh toán khác theo thỏa thuận để tiếp tục kinh doanh. Phần chi phí này thường được trích ra từ doanh thu bán hàng, nhưng cũng có thể là một khoản xác định. Tất cả những điều khoản này phải quy định rõ trong hợp đồng nhượng quyền. Phí này được sử dụng vào mục đích duy trì các loại dịch vụ tư vấn và hỗ trợ mà bên bán sẽ cung cấp cho bên mua. Bên bán cũng có thể cung cấp nguyên vật liệu trực tiếp cho bên mua.

Ngân sách dành cho quảng cáo được chi trả định kỳ. Khoản tiền này thường được đưa vào tài khoảng chung để sử dụng vào chiến dịch quảng cáo hay khuyến mãi của cả hệ thống trên phạm vi địa phương hay toàn quốc.

Các quy định: những ràng buộc của hợp đồng

Thành công của hầu hết các đơn vị nhượng quyền đều dựa trên hệ thống hoạt động, những phương thức và sản phẩm có sẵn. Chính vì thế, công ty nhượng quyền buộc phải bảo vệ những thông tin mang tính độc quyền cũng như thương hiệu của mình. Để thực hiện điều đó, họ đặt ra những điều khoản ràng buộc trong hợp đồng, nhằm chi phối những hoạt động của các đơn vị được nhượng quyền.

Ví dụ, một trong những điều khoản ràng buộc thường thấy là bên mua quyền không được thành lập hay điều hành bất cứ cơ sở nào khác thuộc lĩnh vực kinh doanh tương tự trong thời hạn hợp đồng còn hiệu lực. Điều khoản này gọi là “chống cạnh tranh trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng” (in-term non-competition covenants). Cũng có trường hợp bên bán quyền ngăn cấm bên mua kinh doanh ngành hàng tương tự kể cả sau khi hợp đồng đã hết hiệu lực bằng điều khoản “chống cạnh tranh giai đoạn hậu hiệu lực của hợp đồng” (post-term non-competition covenants). Mỗi địa phương đều có những ràng buộc riêng trong hợp đồng về vấn đề chống cạnh tranh. Thông thường, hợp đồng với điều khoản chống cạnh tranh trong thời gian hiệu lực được sử dụng nhiều hơn so với hậu hiệu lực.

Các quy định: những bí mật kinh doanh

Bí mật kinh doanh thường được coi là yếu tố sống còn đối với thành công của một công ty. Một nguyên tắc được ngầm hiểu là bên mua quyền phải tuyệt đối giữ bí mật này. Việc này không những bảo vệ cho bên nhượng quyền, mà còn đảm bảo cho vốn đầu tư cá nhân của bên được nhượng quyền.

Lựa chọn một phương thức nhượng quyền phù hợp



Làm cách nào để chọn mua được một cơ sở nhượng quyền phù hợp với nhu cầu, khả năng và sở thích của bạn nhất, đồng thời chắc chắn rằng tổ chức mình chuẩn bị tham gia là một công ty uy tín hàng đầu? Sau đây là một số bước khởi đầu giúp bạn cắt tỉa bớt những cành lá rậm rạp để nhìn rõ hơn thân cây - vấn đề chính của chúng ta.

Trước tiên, hãy nghĩ về bầu không khí làm việc mà bạn quan tâm cùng những đòi hỏi và luật lệ cần thiết để vận hành những công việc khác nhau trong những lĩnh vực khác nhau. Ví dụ, bạn có thích làm việc muộn và liên tục trong nhiều giờ không? Thích thuê mướn và điều hành nhiều nhân viên, thích giao tiếp nhiều với công chúng? Nếu như thế, bạn nên cân nhắc việc tham gia vào ngành hàng dịch vụ ăn uống. Hãy dành nhiều thời gian suy nghĩ thật kỹ càng về những ngành nghề phù hợp với phong cách sống của bạn. Bạn hãy lôi kéo người thân, bạn bè hay cả đồng nghiệp vào công việc kinh doanh này. Hãy viết tất cả mục tiêu của bạn ra giấy. Đôi khi, chính hành động ghi chép này sẽ giúp bạn xác định rõ ràng những điều bạn thực sự muốn làm.

Một khi đã xác định rõ những tiêu chuẩn tổng quát của lĩnh vực kinh doanh mình muốn tham gia, bạn nên đi dạo một vòng qua các website giới thiệu về vấn đề nhượng quyền mà chúng tôi sẽ liệt kê sau trong phần cuối loạt bài này. Ở hầu hết các website đó, bạn có thể tìm kiếm những công ty nhượng quyền dựa trên mức độ đầu tư, loại hình kinh doanh, và đôi khi là khu vực địa lý. Một số trang web thậm chí còn cung cấp thêm tài liệu thống kê về tổng số vốn đầu tư cần bỏ ra, cũng như phí thành viên hay những đóng góp cho quảng cáo. Bạn cũng có thể tìm đến nhà tư vấn về nhượng quyền (franchising consultant ) để lựa chọn nhanh chóng và dễ dàng hơn.

Khi đã liệt kê những thông tin thu thập được, bạn hãy bắt đầu bằng việc liên hệ với các công ty nhượng quyền để biết thêm thông tin bổ sung. Một điều bạn cần phải lưu ý trong giai đoạn này là trong khi bạn tìm kiếm những công ty lớn để mua nhuợng quyền, thì chính các công ty này cũng đang săn tìm nhà đầu tư như bạn. Do đó, bạn dự định sẽ hỏi phía bên kia nhiều thế nào, thì bạn cũng sẽ bị hỏi ngược lại nhiều như vậy, bởi vì cả hai bên đều có nhu cầu nắm bắt thông tin tối đa về nhau. Cả hai phía đều phải thừa nhận rằng, đây “cuộc đấu” thú vị để có một sự khởi đầu tốt đẹp.



(Theo BusinessWorldPortal)

Nghiên cứu thị trường cho việc phát triển bản sắc nhận diện thương hiệu

Cập nhật lúc: 16h 18.05.2009
Nghiên cứu thị trường chính thức giúp tìm hiểu thái độ và những cảm nhận của khách hàng, là yếu tố rất có ý nghĩa trong việc phát triển bản sắc nhận diện thương hiệu.

Nghiên cứu là bước đầu tiên để phát triển một hệ thống bản sắc thương hiệu mạnh. Trong bài này, chúng at sẽ bàn về nghiên cứu hướng đến thị trường bên ngoài. Khi xem xét các vấn đề nội bộ, chúng at đã thiết lập được hình ảnh mà doanh nghiệp nghĩ về thương hiệu của mình. Bây giờ, chúng ta cần tìm hiểu khách hàng hiện tại và tiềm năng nghĩ gì. Trước tiên, phải cẩn thận phân chia thị trường rộng lớn thành cácphân khúc cụ thể, làm trọng tâm cho đối tượng khách hàng mục tiêu của doanh nghiệp. Tiếp đó, chúng ta cần hiểu rõ ba khía cạnh quan trọng trong cảm nhận của từng phân khúc thị trường, đó là: khách hàng hiện tại và tiềm năng nghĩ gì về thương hiệucủa bạn, họ cảm nhận thế nào là một doanh nghiệp lý tưởng trong lĩnh vực của bạn và họ nghĩ như thế nào về đối thủ cạnh tranh của bạn?

Khi công ty chúng tôi bắt đầu phát triển một hệ thống bản sắc nhận diện thương hiệu, chúng tôi luôn đề xuất doanh nghiệp nên tiến hành ngchiên cứu chính thức để tìm hiểu cảm nhận của thị trường. Cho tới gần đây, doanh nghiệp vẫn thường đáp lại rằng, “Ồ, chúng tôi biết về khách hàng của mình quá rõ rồi”. Tuy nhiên, để nuôi dưỡng một hình ảnh thương hiệu mạnh thực sự tác động sâu sắc tới khách hàng, thì cần phải khéo léo tìm hiểu thái độ, tình cảm của họ. Và chỉ nghiên cứu thị trường chính thức mới có thể khám phá được những thông tin nhạy cảm đó.
Các đối thủ cạnh tranhnước ngoài hiểu rất rõ điều này. Đó là lý do lĩnh vực này đang phát triển mạnh với nhiều công ty nghiên cứu thị trường chuyên nghiệp hoạt động tại Việt Nam. Hầu hết khách hàng của họ là các thương hiệu nước ngoài. Điều đó dẫn đến việc các nhà tiếp thị nước ngoài hiểu rõ người tiêu dùng Việt Nam hơn chính các nhà tiếp thị trong nước. Tình trạng đáng buồn này đang dần biến chuyển, song vẫn chậm hơn so với tốc độ phát triển của thị trường.

Nhìn Chung, các công ty nghiên cứu thị trường chuyên nghiệp khám phá ba khía cạnh cảm nhận của khách hàng nêu trên thông qua hai hình thức: nghiên cứu nhóm trọng tâm và phỏng vấn chuyên sâu.

Nghiên cứu theo nhóm trọng tâm được tiến hành với những nhóm nhỏ khoảng 10 người là đại diện được lựa chọn từ một phân khúc khách hàng quan trọng đối với thương hiệu. Thương hiệu hướng tới càng nhiều phân khúc khách hàng thì càng có nhiều nhóm tham gia nghiên cứu. Nếu phối hợp nhiều phân khúc thị trường khác nhau trong cùng một nhóm thì kết quả nghiên cứu sẽ bị lẫn, và giá trị những thông tin thu được cũng sẽ ít nhiều chịu ảnh hưởng.

Chẳng hạn, nếu người lớn tuổi và người trẻ được xếp cùng một nhóm thì những thành viên trẻ hơn thường ngần ngại, không muốn bộc lộ hay miêu tả cảm xúc riêng. Trong khi đó, việc tìm hiểu những cảm xúc, tình cảm như vậy lại là mục đích chính của nghiên cứu. Với những câu hỏi được khéo léo chuẩn bị trước, một chuyên viên nghiên cứu giỏi có thể tìm hiểu được rất nhiều điều thông qua buổi thảo luận chỉ kéo dài khoảng hai tiếng đồng hồ. Nhóm tham gia nghiên cứu không biết buổi thảo luận thường được quan sát từ một căn phòng kế bên, qua gương một chiều hoặc camera ghi hình.

May 12, 2009

Phần mềm học từ vựng hiệu quả

Vocaboly là một phần mềm dùng để hoc từ vựng tiếng Anh dùng trong các kỳ thi quốc tế như TOEFL, GMAT, GRE hay SAT. Phần mềm này cũng hữu dụng cho các bạn muốn tăng vốn từ vựng của mình.

Đây là phần mềm miễn phí.

Các tính năng cơ bản

Phần mềm này giúp các bạn học khoảng 12 000 từ trong 5 phần: Từ vựng trong chương trình VOA Special English, TOEFL, GMAT, SAT và GRE. Mỗi mục từ có phần nghĩa (bằng tiếng Anh) phiện âm quốc tế và phát âm.

Giao diện dễ sử dụng. Hỗ trợ nhiều người dùng và theo dõi tiến trình học của từng người học. Hoạt động học đa dạng phong phú và thú vị. Có bài kiểm tra sau khi bạn học từ. Đặc biệt là phần trò chơi để học từ vựng vô cùnh thú vị.

(Download)

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới400) {this.resized=true; this.width=400;}" border="0">

May 10, 2009

5 bí quyết “ăn” điểm thi trắc nghiệm tiếng Anh

Để làm tốt một bài thi trắc nghiệm tiếng Anh, ngoài kiến thức, thí sinh cần có những kỹ năng và chiến lược làm bài tốt.


Kỹ xảo bút chì và tẩy
Bạn nên mang 2 - 3 bút chì đã gọt sẵn để nếu bút này gãy thì có thể dùng ngay bút khác thay thế. Không nên gọt bút chì quá nhọn, mà nên để đầu bút hơi tù, diện tích tiếp xúc của chì với giấy sẽ nhiều hơn, tô đáp án sẽ nhanh hơn, không làm rách giấy thi.
Tuyệt đối không tô hai phương án trả lời trong cùng một câu hỏi, và cũng không được gạch chéo, hay đánh dấu cộng cho phương án trả lời.
Cùng với bút chì, tất nhiên bạn nên mang theo tẩy. Không nên sử dụng tẩy ở đầu bút chì, vì ngay việc quay đầu bút để tẩy cũng sẽ tốn đến mấy giây. Bạn nên mang một cục tẩy rời. Tay phải cầm bút, tay trái cầm tẩy. Nếu có một câu trả lời nào bạn nghĩ mình đã làm sai, có thể tẩy ngay.
Cần chú ý khi điền câu trả lời. Nếu bài thi trắc nghiệm của Việt Nam thực hiện tương tự như bài thi TOEFL hoặc IELTS, thì câu hỏi và các phương án trả lời sẽ được in trên phiếu câu hỏi, và phiếu làm bài của thí sinh sẽ chỉ in số câu hỏi và các chữ A, B, C và D tương ứng với các phương án trả lời.
Bạn cần cẩn thận điền câu trả lời đúng chỗ tương ứng. Nếu đọc câu hỏi số 8 ở trong phiếu câu hỏi nhưng lại điền phương án trả lời cho câu số 9 ở phiếu làm bài thì có nguy cơ: từ các câu tiếp theo, thí sinh sẽ điền câu trả lời không đúng chỗ. Điều này rất nguy hiểm vì các câu trả lời trong phiếu làm bài sẽ sai hàng loạt.


Ảnh minh họa
Phương pháp phỏng đoán và loại trừ
Có người nghĩ rằng đoán không phải là một cách hay. Tuy nhiên, nếu không chắc chắn về câu trả lời thì việc phỏng đoán một cách lôgic và khoa học là giải pháp cho bạn.

Bạn sẽ chẳng mất gì nếu đoán câu trả lời. Nếu đề thi của Việt Nam được thiết kế giống đề thi TOEFL thì, với câu trả lời sai, thí sinh sẽ không "ăn" điểm nhưng cũng không bị trừ điểm.
Trong trường hợp có thời gian để suy nghĩ, nhưng không chắc chắn về câu trả lời thì bạn có thể dùng phương pháp loại trừ. Trong 4 phương án trả lời, bạn có thể phân tích và tìm ra câu trả lời sai. Như vậy, câu trả lời đúng sẽ nằm trong số còn lại. Nếu loại trừ được càng nhiều phương án sai thì xác suất chọn được câu trả lời đúng càng cao.
Trong trường hợp không có thời gian để đọc kỹ câu hỏi thì bạncũng không nên bỏ trống câu trả lời. Chẳng hạn, nếu còn 10 câu hỏi mà chỉ còn 1 phút để trả lời, cách tốt nhất là chọn bất cứ một chữ cái nào đó.
Chẳng hạn là B, và điền câu trả lời B vào tất cả các câu hỏi còn lại. Như vậy, xác suất đúng sẽ cao hơn, trong điều kiện thời gian còn quá ít.
Vậy là, bạn nên phỏng đoán khi làm bài thi vì đây không phải là gian dối. Đó đơn giản là một cách thông minh khi làm bài thi. Những người bạn khác cũng làm như thế, vì vậy, tại sao lại giới hạn cơ hội của chính mình?
Phân bổ thời gian
Theo thông báo của Bộ GD-ĐT, bài thi trắc nghiệm môn ngoại ngữ bài thi tuyển sinh ĐH, CĐ có 70 – 100 câu. Thời gian làm bài là 90 phút. Như vậy, bạn sẽ có khoảng chưa đầy một phút để trả lời một câu hỏi.
Trong quá trình làm bài, nếu bạn đọc một câu hỏi 2 lần mà chưa trả lời được thì có thể dùng phương pháp loại trừ và phỏng đoán để chọn lấy một câu trả lời. Bạn có thể quay trở lại những câu hỏi này nếu còn thời gian.
Trong một số kỳ thi tiếng Anh quốc tế, số điểm dành cho một câu hỏi khó và câu hỏi dễ là như nhau. Vì vậy, Teen không nên dành quá nhiều thời gian cho một câu hỏi khó mà không còn thời gian để trả lời những câu hỏi dễ.
Tôi không rõ là đề thi ngoại ngữ của Việt Nam sẽ cho điểm câu dễ và câu khó khác nhau hay không. Nhưng dẫu sao, thí sinh cũng không nên dành quá nhiều thời gian cho một câu hỏi khó.
Đọc trước câu hỏi để định hướng nội dung cần tìm trong bài đọc hiểu
Bạn nên tập trung đọc những thông tin cần cho câu trả lời chứ không nên đọc cả đoạn văn mà không có định hướng gì.
Thông thường, mọi người thường bắt đầu đọc đoạn văn trước, rồi đọc câu hỏi thứ nhất và trở lại bài đọc để tìm câu trả lời. Như vậy là để trả lời mỗi câu hỏi, bạn đã phải đọc đoạn văn đến 2 lần. Cách tốt nhất là thí sinh đọc câu hỏi trước để biết rằng mình cần phải tìm thông tin gì trong khi đọc cả đoạn văn.
Câu hỏi đầu tiên trong đoạn văn thường là câu hỏi về chủ đề, ý chính hoặc tiêu đề phù hợp cho đoạn văn “Which of the following is the main idea/point/purpose/topic/best title of/for the passage?"
Nếu thấy câu hỏi loại này xuất hiện đầu tiên trong bài đọc hiểu, bạn đừng trả lời ngay, mà nên trả lời các câu hỏi tiếp theo trước. Sau khi đã trả lời hết các câu hỏi khác, bạn sẽ biết nội dung chính của bài đọc là gì và có thể trả lời câu hỏi này tốt hơn.
Trả lời những câu hỏi có từ “định hướng”
Những câu hỏi có từ “định hướng” sẽ cho bạn biết câu hỏi là về vấn đề gì, và định hướng cho bạn phải tìm thông tin gì trong bài đọc.
Nếu gặp câu hỏi như sau: “According to the passage, Tom was…”, thì cần phải tìm trong đoạn văn nội dung nói về Tom. Như vậy, “Tom” chính là từ định hướng trong câu hỏi này. Từ định hướng thường là những danh từ hoặc cụm danh từ, là những từ in hoa, con số và từ viết tắt.
Teen nhà mình nên làm theo những bước sau để trả lời dạng câu hỏi này:
Bước 1: Đọc câu hỏi và tìm ra từ “định hướng”
Bước 2: Tìm từ “định hướng” trong đoạn văn
Bước 3: Khi đã tìm ra từ “định hướng”, đọc câu phía trước từ đó và chính câu chứa từ “định hướng”.
Bước 4: Nếu đã tìm ra thông tin, trở lại phần câu hỏi và câu trả lời để tìm câu trả lời gần nhất với thông tin trong đoạn văn.
Bước 5: Nếu không tìm thấy thông tin cần cho câu trả lời, từ “định hướng” có thể xuất hiện trở lại trong phần sau của đoạn văn. Lặp lại bước 2 đến bước 4 mà thí sinh gặp từ “định hướng”.
Nếu từ định hướng xuất hiện 5 đến 6 lần trong đoạn văn thì có thể phải đọc cả đoạn. Bạn không nên làm điều đó mà hãy quay thật nhanh trở lại câu hỏi và chọn một từ “định hướng” khác.
Nếu vẫn chưa tìm được câu trả lời thì có thể câu hỏi này thuộc diện khó. Bạn có thể áp dụng phương pháp phỏng đoán và tiếp tục làm câu hỏi tiếp theo. Cần lưu ý rằng, bạn không nên dành quá 1 phút cho mỗi câu hỏi.
Teen cũng nên ghi nhớ nội dung mình đã đọc để có thể trả lời câu hỏi về nội dung chính của đoạn văn.

Theo Hocmai.vn

May 4, 2009

Contribution to society

It is generally agreed that society benefits from the work of its members. Compare the contributions of artists to society with the contributions of scientists to society. Which type of contribution do you think is valued more by your society? Give specific reasons to support your answer.

From my everyday experience and observation I think that artists as well as scientists brings many benefits to society. It is a controversial question weather the contributions of artists are more or less then the contributions of scientists to the society. For several reasons, which I will mention bellow, I think that both types are valuable, priceless and irreplaceable for every society.

The contributions of artists to the society are very essential. Art forms people's spiritual sense, their views and personalities. People learn history, the traditions of their country trough the art. We also watch movies that entertain and at the same time extend our range of interests. Another important aspect of this is that art is an ancient means of communication. In old times people depicted the herds of mammoths on the walls of their caves. They performed different rituals around the fireplace asking their gods for health, good harvest and weather. Our language is a result of people's need to communicate.

From the other side, the contribution of scientists is could not be exaggerated. All humankind is indebted to the scientists because of their work and achievements. Scientists make our life easier. We have cars and airplanes to move fast from one place to another. We have microwaves and a bunch of preprocessed food to make the cooking much easier. We have different devices that simplify all we do. Finally, scientists are making great achievements in medicine that make our life longer and happier. Nowadays people have a great opportunity to do many things faster by use of computers.

To sup up, I believe that artists nourish our souls when scientists and technology feed our minds. So, we can not eliminate or underestimate one of them.

Help from children

Do you agree or disagree with the following statement? Children should be required to help with household tasks as soon as they are able to do so. Use specific reasons and examples to support your answer.

The issue about whether children should help with household tasks as soon as they are able to do so is open for debate. Some people say that children should devote more time for playing with their friends, watching TV and studying. However, other people believe that children should help their parents with household tasks. Personally, for several reasons, which I will explain bellow, I adhere to the latter point of view.

First of all, I think that every child should have his or her own responsibilities. When I was a child my parents taught me how to make breakfast in the morning. So, I woke up, went to the kitchen and prepared a couple of toasts for breakfast. It was easy and I enjoyed doing it because I liked the way my parents thanked me and I felt that they were proud of me. Also, my mom always wanted me to know how to cook, clean and iron my cloth. Thanks to the learning, nowadays, when my maid can not come to my house I handle all household tasks myself.

Second of all, performing household tasks teaches children to value the job of people who did it. When I was a child I did not imagine that cleaning house could be so time and energy consuming. So, when I began to do some of the household tasks by myself I began to respect the job of others and tryed to collect all my toys after my playing with them.

Finally, doing household tasks teaches children to arrange their time. In addition to those practical benefits, help from children allows parents to have more spare time for their personal lives and for the children. A family can have more time to spend with each other talking, watching movies or just enjoying the beautiful moments.

To sum up, I think that children should help their parents with household tasks. Doing household tasks helps them to grow into independent, self-confident, and attentive persons who respect their parents.

Apr 25, 2009

Buisiness and profit

Do you agree or disagree with the following statement? Businesses should do anything they can to make a profit. Use specific reasons and examples to support your position.

I do not agree with the statement that businesses should do anything they can to make a profit. I state my opinion on the following points.

First of all, every company must have its moral code. It means that a company should treat its clients properly and respect their rights. Of cause a company may lose a part of its profit but security of its clients must be on the first place. Otherwise, clients will switch to another company and never be back. For instance, a few years ago "Jonson&Jonson" produced a new type of painkillers. Unfortunately, this product was not tested properly. As a result of this many people died and received injures. The president of the company made a crucial decision to call back all painkillers from all distributors and pay to all injured customers for their treatment. It cost a lot of money for the company but it saved its image and clients. It was a very difficult decision, but the president of the company understood that it would cost him even more in the future because he would not be able to return clients' respect. Loosing customers means for a company loosing its profit.

Second of all, in order to succeed in the modern world companies have to compete with each other. Many companies lose their profit decreasing prices on their products. They do not aspire for extra profit but for clients' satisfaction. Companies do it because they want their products sold and their customers satisfied. They offer discounts, free delivery, free service, free Internet access, good return service, etc. All these are done to make their old customers happy and attract new clients.

To sum up, I think a company, which the only goal is profit will not succeed nowadays. Otherwise, companies that respect their clients and want to see them satisfied will make

Large and small companies

Some people prefer to work for a large company. Others prefer to work for a small company. Which would you prefer? Use specific reasons and examples to support your choice.


The issue whether working for a large company is better than working for a small company is a controversial one. From my everyday experience and observation I think that every option has its advantages and disadvantages. I base my opinion on the following points.

From the one side working for a large company brings many benefits. First of all, one has better medical insurance, higher salary. Often employees of a large company has less responsibilities. Moreover, they feel more secure because their company has more clients and this means better chance to survive on the modern market. However, one working for a large company has less chance to be promoted because one's manager does not want to lose his or her job unless she or he is promoted too. Also, from my observation, managers of a large company do not pay much attention to one's solutions and suggestions.

From the other side working for a small company has many advantages too. Firstly, one has better chance to be promoted. Secondly, one can talk to the owner of the company about any improvements that can be done in order to get more profit. Another important aspect of working for a small company is the opportunities to find out more about how company works. As a result of this one can gain more experience and get better recommendations. However, this also has some disadvantages. For instance, one can get less salary, worse medical benefits, etc.

To sum up, I think that every person chooses for himself what he or she wants. If one wants better career and more responsibilities then a small company is better choice. Otherwise, working for a large company may be a good option too.

at 3:13 AM

People hired for entire life

Businesses should hire employees for their entire lives. Do you agree or disagree? Use specific reasons and examples to support your answer.

I would have to completely disagree with the statement above. In the following paragraphs I will outline the basic concepts of my position.

First of all, I will least the major disadvantages for employers. On the today's market a company must be very flexible in order to compete with other firms. So, imagine the situation when a company can not fire its employees to stay on the market. It will lead to loosing not only a profit, but the clients, market share and competitive ability. Now, imagine the situation when a company is growing fast, everything is good and the next few years are going to be excellent. So, employers need more people to extend the production. However, nobody can tell what will happen in a few years. In this case, employers will be afraid to hire new people and extend their business because they will not be able to fire them if something goes wrong. Another important aspect of this is that a company can not have the best employees. It can not hire the better one without dismissing another employee.

What kind of disadvantages will have an employee in exchange for this kind of job security? First of all, it will be very difficult to find a job if one is not the best, because an employer does not want to spend money on one's education. Besides, employer will not have a chance to fire one if he does not do his job well. Second of all, employees with this kind of security tend not to perfect themselves because after they are hired they can not lose their job.

In conclusion, I would like to add that this statement has some positive aspects too such as constancy, a strong spirit of the company, etc. This system takes place in Japan and some companies succeeded in it. But I think that the reason of it subsists in the Japanese traditions, the particular cultural features, habits and customs. However, on today's market here in the United States a company can not afford to hire employees for their entire life.

Books about real events

Do you agree or disagree with the following statement? People should read only those books that are about real events, real people, and established facts. Use specific reasons and details to support your opinion.

Some people think that fiction books have no use at all. They claim that people should read about real events that took place, real people, and established facts. I have to totally disagree with this statement. From my everyday experience and observation I can stand that fiction, miracles and fairy tails are required in our life. For several reasons, which I will mention below, I believe that fiction books play an essential role in our life.

First of all, it is kind of difficult to imagine a six year old child reading about politics or history with the real facts that are not always pleasant. I think that children need miracles and Santa Claus because the real world is too complicated for them. They are too innocent and inexperienced to know the real facts and understand what is a real life about. In addition, I am sure that making a child read only non-fiction books can result in shock. In addition to these benefits,

Second of all, following this statement about refusing from reading books about fiction events we also should refuse from festivals, parades, and celebration such holidays as Halloween because most of the characters there are fictional. Moreover, comic books will disappear as well as animated films and fiction movies. The disadvantage of non-fiction lies in the facts that nothing happens to excite the mind and spirit. From the other side, fiction provides a great slope for a mind to think creatively.

In conclusion, I think that people need miracles. We can not be satisfied with only naked truth. Human kind must believe in something and this believe helps people break limits and make new inventions.

Share

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More